Feeds:
Posts
Comments

Tôi chọn năm 1954 là điểm xuất phát đường đi của những người nông dân, vì đó là thời điểm miền Bắc giải phóng hoàn toàn khỏi ách cai trị của người Pháp. Suốt chặng đường dài hơn nửa thế kỷ ấy, trên cánh đồng của mình, người nông dân đã đi được đến đâu? Họ có biến được giấc mơ về sự giàu có và văn minh thành hiện thực không?

54 năm qua, những người nông dân không một ngày ngừng cày cuốc, nhưng ngẩng lên nhìn lại, họ kinh hãi nhận ra: họ đã đang đi theo một vòng tròn, đang có nguy cơ trở lại điểm xuất phát.

Nếu có ai phản biện điều tôi vừa nói, xin đừng dùng hình thức bên ngoài trong đời sống của người nông dân để làm bằng chứng cho những phản biện của mình. Đời sống sinh hoạt tuy có thay đổi, nhưng những thay đổi ấy không có ý nghĩa nhiều lắm so với sức lao động và sự hy sinh của họ hơn nửa thế kỷ qua. Nếu chúng ta nhìn gần hơn nữa vào hiện thực trên cánh đồng của họ, nhìn sâu hơn nữa vào ngôi nhà họ, tôi tin, chúng ta không thể cầm lòng.

Trước năm 1954, những người nông dân là những người làm thuê cho các chủ đất mà chúng ta gọi là địa chủ. Sau khi miền Bắc được giải phóng kéo theo cuộc cách mạng ruộng đất lớn, đất đai không còn thuộc về những chủ đất trước đó nữa, nhưng người nông dân vẫn chưa thực sự trở thành người chủ sở hữu đất đai của họ. Hợp tác xã được thành lập. Trước kia, đất đai thuộc sở hữu của một cá nhân, nay thuộc sở hữu của một tập thể những cá nhân. Người nông dân vẫn chỉ là những người làm công ăn điểm. Họ không được quyền quyết định hình thức và nội dung sản xuất. Chỉ đến khi khoán quản ra đời, vai trò tự chủ của người nông dân đối với mảnh đất của họ mới được xác lập một phần. Nhưng, quyền sở hữu đất đai vẫn chưa thuộc về họ.

Lý thuyết về khoán quản là của ông Kim Ngọc, nhưng người thực hiện thành công đầu tiên lại là những người nông dân xã tôi – xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Ngày đó, các ông Phạm Văn Đồng, Tố Hữu và một số vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã về xã tôi để tận mắt nhìn sự thay đổi lạ lùng này. Báo Nhân Dân đã có hẳn một bài báo với dòng tít lớn: Sơn Công, câu trả lời cho vấn đề nông nghiệp Việt Nam. Ông chủ nhiệm Hợp tác xã Sơn Công đã trở thành đại biểu Quốc hội ngay sau đó, dù ông mới chỉ học hết lớp ba.

Nhưng, từ đó đến nay, phương thức sản xuất nông nghiệp của những người nông dân vẫn không thay đổi đáng kể. Đầu những năm 1950 của thế kỷ trước, hệ thống tưới tiêu, hệ thống cơ giới và kỹ thuật nông nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp khá tốt. Ngày đó, người nông dân được tuyên truyền về tương lai của những cánh đồng, về thời đại cơ giới hóa, máy móc và kỹ thuật sẽ trợ giúp việc canh tác của họ. Bản thân những người nông dân cũng tin và mơ ước như thế.

Nhưng cho đến bây giờ, sau mấy chục năm, giấc mơ cơ giới hóa nông nghiệp coi như tan biến. Ngay cả những người tuyên truyền về giấc mơ này cũng “ngủ” thiếp từ lâu.

Thay vào giấc mơ cơ giới hóa là sự trở về của hiện thực con trâu đi trước cái cày theo sau. Hình ảnh này trước kia được dùng để nói về nỗi thống khổ và lạc hậu của người nông dân, giờ lại là hình ảnh quá quen thuộc trên những cánh đồng. Mà ngay đến trâu bò cũng không đủ cho nông dân cày ruộng.

Có một điều kỳ lạ là thi thoảng chúng ta vẫn thấy, trên truyền hình hồ hởi đưa tin những người nông dân sáng chế ra máy gặt lúa, tuốt lúa, máy gieo hạt… như một thành tựu khoa học. Xin hỏi, những nhà sáng chế nhiều bằng cấp trong các viện sáng chế của Nhà nước đang ở đâu và đang làm gì mà để cho mấy người nông dân, có khi chỉ học hết lớp ba trường làng, hì hục tự chế ra những phương tiện để bớt nỗi vất vả của họ?

Từ năm 1954, chúng ta đã bắt đầu đào tạo kỹ sư nông nghiệp một cách có hệ thống. Theo tôi biết, mỗi năm ít nhất có khoảng vài trăm kỹ sư nông nghiệp ra trường. Nhưng suốt một nửa thế kỷ qua, ở rất nhiều vùng quê tôi biết, không hề có lấy một ông (bà) kỹ sư nông nghiệp nào về sống, làm việc cùng nông dân và hướng dẫn họ. Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì người nông dân cả nước vẫn đang sản xuất nông nghiệp theo bản năng và thói quen như tổ tiên họ trước kia.

Những người nông dân khi được hỏi đến đều buồn bã cho rằng không ai quan tâm đến họ. Nhiều người nói: chúng tôi đang được quan tâm vì người ta muốn lấy ruộng để làm dự án! Người nông dân được đền bù một số tiền mà họ chưa bao giờ có. Nhưng, những đồng tiền bù đó là những đồng tiền mua sự thất nghiệp và những thách thức khác mà chính người nông dân không thể biết. Cái chính sách mà họ thực sự cần là chính sách tạo công ăn việc làm cho họ và con cháu họ sau khi không còn đất để cấy trồng nữa, nhưng một chính sách cụ thể như thế, cho đến giờ, không một người nông dân nào nhìn thấy, thậm chí nghe thấy.

Những người nông dân đang đi theo một vòng
tròn. Đó không phải là ý của tôi mà là ý của những người nông dân làng tôi. Họ nói: “Ngày xưa ông bà chúng tôi làm ruộng thế nào bây giờ chúng tôi vẫn làm như thế. Chỉ khác là bây giờ có điện. Nhưng, cứ vào ngày mùa thì điện lại bị cắt”.

(còn tiếp)

Nhiều lúc, tôi vẫn tự hỏi, những người quản lý nông thôn nói riêng và những người quản lý xã hội nói chung đã bao giờ đặt câu hỏi cho chính trách nhiệm của họ: “Mỗi tháng, tổng thu nhập của một khẩu trong mỗi gia đình nông dân là bao nhiêu? Với thu nhập như vậy, họ sẽ sống thế nào?”.

Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Và dù đã biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả, tôi vẫn kinh ngạc khi được nghe con số cụ thể: “Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000đ”. 40.000đ để chi tiêu tất cả những gì họ cần trong một tháng, trong khi chừng ấy tiền chỉ là giá của hai bát phở, giá của hai lít xăng, giá của hai suất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của ba ly cà phê…

Theo khảo sát tạm thời của tôi, hiện mỗi một khẩu ở nông thôn trung bình có một, hai sào ruộng để canh tác. Mỗi năm họ cấy hai vụ lúa với sản lượng trung bình là hai tạ/một sào. Mỗi tạ thóc có giá 250.000đ, có khi lên đến 300.000đ nhưng giá thóc chỉ cao trong một thời gian không đáng kể. Như vậy, mỗi năm trồng lúa, một khẩu sẽ thu nhập khoảng một triệu đồng. Xen vào hai vụ lúa là một vụ màu (ví dụ là ngô). Sản lượng ngô/một, hai sào lúc này tính ra tiền xấp xỉ lúa. Như vậy, tổng doanh thu của một người nông dân trong một năm từ lúa và hoa màu trên mảnh ruộng của họ là khoảng 1.300.000đ.

Trong khi đó, chi phí cho tất cả các dịch vụ từ cày cấy, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thu hoạch, chế biến… chiếm ít nhất 60% tổng doanh thu. Thực thu còn lại của một người nông dân từ việc canh tác trên mảnh ruộng của họ mỗi năm là khoảng 500.000đ. Nếu chia ra 12 tháng thì mỗi người nông dân chỉ có khoảng 40.000đ cho toàn bộ chi tiêu trong một tháng.

Tất nhiên, ngoài nguồn thu nhập ấy, người nông dân phải tìm những nguồn thu nhập phụ khác như chăn nuôi, làm nghề phụ, làm thuê trong thời gian giáp hạt v.v… Nhưng, những thu nhập phụ này không phải là nguồn thu nhập ổn định và cũng không đáng bao nhiêu. Chăn nuôi cũng chỉ để cải thiện thêm đời sống, nghề phụ thì hầu hết các làng nghề truyền thống đã và đang teo dần lại vì tính hiệu quả quá thấp.

Số ruộng tính trên một đầu người mà tôi đưa ra ở trên là một con số hơi lạc quan. Thực tế, có những gia đình nông dân tính đầu người không quá nửa sào ruộng, có nơi còn ít hơn thế vì tất cả những người sinh sau năm 1993 không còn được chia ruộng nữa. Do vậy, một gia đình có hai vợ chồng trẻ và ba đứa con, tổng cộng năm người, chỉ có 2,5 sào. Số gia đình như vậy ở nông thôn đang càng ngày càng nhiều.

Nhiều người nói, ruộng canh tác của nông dân ngày càng ít đi. Thực tế không hẳn là như thế, mà vì dân số ngày càng tăng nên tất yếu số ruộng tính trên đầu người sẽ ít lại. Các khu công nghiệp, các khu đô thị mới, các khu vui chơi giải trí lại đang ngày càng mở rộng, góp phần nuốt chửng hàng trăm, hàng ngàn và rồi sẽ đến hàng triệu hecta ruộng của những người nông dân.

Với hiện trạng như vậy, người nông dân và con cháu của họ sẽ ra sao? Đất nước đã và đang phát triển. Đó là sự thật không ai có thể phủ nhận. Nhưng, sự phát triển này đang ngày càng mất cân bằng. Nếu chúng ta dựng đồ thị sự phát triển của các đô thị và các vùng nông thôn, sẽ thấy ngay sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị ngày một cao. Khoảng cách giàu nghèo giữa nông dân và thị dân càng ngày càng làm cho những người nông dân thêm tủi nhục và cay đắng. Một thị dân chi tiêu một ngày đã gấp ba, gấp bốn tổng chi phí một tháng của một người nông dân. Đó mới chỉ là sự so sánh giữa một thị dân nghèo với một người nông dân, chứ chưa phải so sánh với một thị dân thu nhập cao.

Cách đây khoảng bảy năm, tôi có làm việc với huyện Mai Châu, Hòa Bình và được biết: số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai vay ngân hàng Nhà nước và đã làm thất thoát bằng tổng thu nhập trong 80 năm của cả huyện. Ngày nay, việc làm thất thoát tài sản của nhân dân còn lớn gấp nhiều lần Nguyễn Văn Mười Hai trước kia. Trong khi đó, thu nhập của người nông dân vẫn chẳng cải thiện được bao nhiêu.

Những cuộc vận động “lá lành đùm lá rách” chỉ là một lối hành xử văn hóa chứ không phải là một chính sách, một chiến lược đối với nông dân. Chính vì với thu nhập “kinh hoàng” như thế mà tương lai của các thế hệ trẻ ở nông thôn Việt Nam là một tương lai bất ổn. Những thiếu nữ từ các vùng nông thôn đi như trẩy hội về thành phố làm những nghề “mập mờ”. Việc liều thân đi làm dâu ở Hàn Quốc, Đài Loan v.v… là một bi kịch. Tất cả cũng chỉ vì họ cố tìm cách thoát ra khỏi cuộc sống quá nghèo đói và không nhìn thấy hy vọng nào ở tương lai của chính họ và gia đình.

Họ cũng không làm thế nào để cải thiện được cuộc sống hiện tại. Họ chỉ có từng ấy đất đai, từng ấy mùa vụ, từng ấy sản lượng, chỉ có bấy nhiêu phương tiện lao động và cả từng ấy tư duy canh tác… Cho nên, kết quả đương nhiên là chỉ
có từng ấy thu nhập.

Phải thừa nhận là chúng ta không quan tâm đến họ một cách thiết thực, mà nói thẳng ra là chúng ta đã từng bỏ rơi họ. Mấy gói mì tôm, mớ quần áo cũ ném xuống làng họ khi bị bão lũ đâu phải là một chính sách hay là một chiến lược. Có thể có một doanh nhân nào đó sẽ khó chịu, nói: “Nông dân hãy làm đi, đừng kêu than!”. Tôi xin hỏi: “Giữa một doanh nhân được mua hàng trăm, hàng ngàn hecta đất ruộng của những người nông dân với giá vài trăm ngàn đồng/mét vuông để ngay sau đó bán lại một mét vuông đất đó trên sơ đồ quy hoạch với giá hàng chục triệu đồng, thậm chí hơn thế thì ai là người được “quan tâm” và ai là kẻ bị bỏ rơi?”.

(còn tiếp)

Trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” của tôi (giải thưởng Hội Nhà văn năm 1993), có bài thơ “Trên đại lộ” viết về những người đàn bà thôn quê, đoạn mở đầu là:

Những người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải sát mép đại lộ
Người họ bọc kín bởi những lớp vải nâu và đen
Chỉ đôi tay, đôi chân và đôi mắt lộ ra
Nhưng tất cả cùng một màu như thế
Những chiếc dậm đan bằng tre trên vai họ như vầng trăng khuyết vớt từ bùn lên
Những cái giỏ bên hông như những cái đầu trọc lắc lư theo nhịp bước
Bóng họ đổ xuống đường thành những vũng đen

Tôi đã viết bài thơ này 17 năm trước. Nhưng đến bây giờ, hình ảnh trong bài thơ về những người đàn bà thôn quê lam lũ và u buồn hình như chẳng thay đổi bao nhiêu. Trên những con đường và trên những cánh đồng thôn quê, chúng ta vẫn nhìn thấy hiện thực ấy. Cả trong những đô thị, thi thoảng chúng ta lại nhìn thấy họ đi qua những tiệm cà phê, quán ăn…

Đại lộ trong bài thơ là hình ảnh của đô thị hóa. Đô thị hóa làm ai đó thay đổi đời sống của mình, nhưng những người đàn bà thôn quê vẫn đang đi bên lề của sự đổi thay ấy. Họ đi như một sự cam chịu. Họ đi và không hề than thở. Họ thực sự là một đội quân thất trận trên cánh đồng của mình.

Không ít người đàn bà thôn quê và con cháu họ đã phải rời bỏ cánh đồng và quê hương mình để ra thành phố, làm tất cả những gì có thể để mưu sinh. Họ làm Ôsin, bồi bàn, họ bán hàng rong và có khi bán cả thân xác lẫn tâm hồn… Nhìn vào mâm cơm của họ, nhìn vào giường ngủ của họ, nhìn vào gương mặt của họ… tôi luôn có cảm giác rằng họ không bao giờ có được một giấc mơ đẹp.

Hàng tuần, trở về làng mình, lúc nào tôi cũng bàng hoàng bởi sự đổi thay nhan sắc của những thiếu nữ thôn quê. Tóc họ vừa mới dài đấy, má họ vừa mới hồng đấy, mắt họ vừa mới lấp lánh đấy, lưng họ vừa mới thon thả đấy… nhưng, chỉ trong chớp mắt, đã không còn nhận ra họ nữa. Họ nhanh chóng trở nên già nua và xấu xí như bị một mụ phù thủy hóa phép. Khi tôi cất tiếng chào họ trên đường làng, không ít người cúi mặt đáp lại lí nhí và vội vã bước đi.

Những người đàn ông quá mệt mỏi vì phải cố gắng đổi thay đời sống ngay trên mảnh ruộng của gia đình. Họ lao vào rượu chè. Thế là bạo lực gia đình ngày một tăng lên. Tất cả sự thất vọng và cực nhọc, họ trút xuống những người đàn bà của mình. Có đến 99% những người đàn bà thôn quê bị bạo hành đã cam chịu, không bao giờ lên tiếng. Bởi họ biết, điều đó chỉ làm những cơn phẫn nộ gia tăng.

Chúng ta từng đọc trên báo chí tâm sự của những thôn nữ bán mình. Họ bán mình một hai năm để có chút vốn, về quê lấy chồng và lập nghiệp. Những chuyện như thế trước kia cũng có, nhưng không phổ biến và không được coi là “chuyện thường tình” như bây giờ. Trước kia, cả xã hội cùng nghèo. Bây giờ, giữa người giàu và người nghèo là một vực sâu. Những người đứng phía bờ của đói nghèo không bao giờ dám tin có ngày họ sẽ vượt qua. Tổ tiên họ trồng lúa, ông bà họ trồng lúa, rồi cha mẹ họ và đến họ cũng vẫn trồng lúa. Trồng lúa chỉ duy nhất giúp họ không chết đói, chứ không bao giờ giàu lên được.

Những người đàn bà thôn quê đời này nối đời kia trồng cấy không ngơi nghỉ. Nhưng tôi cam đoan, hầu hết gia đình họ không có nổi vài triệu tiền mặt trong nhà. Thế nhưng, có những người gọi là doanh nhân đến mua hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn hecta đất cấy trồng của họ để lập dự án xây chung cư, bán lại kiếm hàng trăm, hàng ngàn tỷ. Đó là sự thật đang diễn ra hàng ngày mà chúng ta ai cũng biết.

Như hình ảnh trong bài thơ của tôi, người đàn bà nông thôn vẫn đi sát mép đại lộ như một sự cam chịu tội nghiệp và không than thở. Những người đàn bà ở rất nhiều vùng thôn quê sống như một tù nhân trong chính ngôi nhà của họ. Họ bị bắt sinh hết đứa con này đến đứa con khác. Có những người khiến tôi nghĩ, lúc nào họ cũng có thai. H
phải lao động nhiều hơn những người đàn ông. Họ không biết đến điều gì thuộc về đời sống tinh thần. Họ không có báo, có sách để đọc, họ không biết đến mỹ phẩm, không biết đến cả một bát phở tồi bán ở thị trấn, càng không biết đến nhà hàng hay tiệm làm tóc… Họ sống như ở một thế giới khác và một thời khác thời chúng ta đang sống. Họ chỉ biết đến trâu bò, lợn gà, phân tro, bùn đất, cấy hái, con cái và muôn vàn nỗi lo khác.

Và, điều đau lòng mà tôi biết là họ không mấy khi có được một giấc mơ đẹp. Hình như họ chẳng có một ngày thanh thản để một giấc mơ đẹp có thể bay về trú ngụ trong tâm hồn họ. Trong suốt những năm chiến tranh, họ sống âm thầm với bao giáo lý về đức hạnh để chờ chồng. Ngay cả khi người chồng đã hy sinh, họ cũng không dám đi bước nữa bởi những ràng buộc và thói thị phi.

Nhiều năm qua, tôi đã cố gắng làm những gì có thể cho đời sống văn hóa của làng tôi. Tôi chỉ mong muốn tôi và bạn bè mình có thể mang đến cho họ một khoảnh khắc hạnh phúc, để tạm quên đi những cực nhọc và u buồn đằng đẵng bám theo cả đời họ. Hai câu thơ cuối bài thơ tôi viết: Họ đến từ đâu và sẽ đi đâu? Với mùi tanh cua ốc tỏa quanh người. Tôi đang nói về họ chứ không phải nói về những câu thơ của mình.

Cũng 17 năm về trước, tôi đã gặp những người đàn bà thôn quê đi buôn cá khô, nước mắm, cua ốc trên những chuyến xe khách. Áo quần, tóc tai họ tỏa ra mùi cá khô và mùi gà vịt. Họ ngoẹo đầu ngủ trên xe, có người miệng chảy dãi. Và, tôi viết Giấc mơ như thế nào trong giấc ngủ thế kia? Đó không phải là thơ. Đó là một câu hỏi như tiếng nấc.

Cuộc sống của con người đâu chỉ để kiếm từng miếng ăn nhét đầy dạ dày, mà phải được khai mở tâm hồn và trí tuệ. Nhưng, những người nông dân nói chung và những người đàn bà thôn quê nói riêng đã sống một cuộc sống hầu như không có sự khai mở ấy. Hãy đến và sống với họ, chúng ta sẽ phải kinh ngạc kêu lên: Chẳng lẽ con người sinh ra để sống như thế ư?

(còn tiếp)

Trong một lần về quê cách đây vài tháng, tôi ghé trạm y tế xã, nơi trước kia được gọi là trạm xá. Trạm y tế là một căn nhà cấp bốn tường đã bắt đầu mục nát, một quầy thuốc hình như không để đựng thuốc, vài chiếc giường cái có chiếu, cái không… Tôi lên tiếng mãi chẳng ai đáp lại. Những cán bộ y tế của trạm giờ thực ra chỉ là những người bán thuốc lẻ giá cao cho người dân ở vùng đó. Những hình ảnh ấy như chứng minh sự “lụi tàn” của mạng lưới y tế cơ sở.

Bây giờ, những căn bệnh hiểm nghèo ngày một tăng. Nguồn nước những người nông dân sử dụng hàng ngày chưa hề có bất kỳ sự xử lý ô nhiễm nào. Nhiều nơi, những người nông dân vẫn dùng nước từ những chiếc giếng làng mà thực chất là nước đầm nước ruộng chảy vào. Đa số các gia đình nông dân dùng giếng khoan với một hệ thống lọc tự chế. Mới đây, một tài liệu khoa học công bố 80% nguồn nước ở nông thôn bị ô nhiễm. Tôi nghĩ, ở nhiều làng, 100% nguồn nước đã bị nhiễm độc. Bởi thế, trong thế kỷ này ở Việt Nam đã xuất hiện những làng ung thư.

Bây giờ về quê, khác với mấy chục năm trước, lúc nào cũng nghe người làng nói về những căn bệnh hiểm nghèo và quái dị mà người làng tôi mắc phải. Nhiều đêm, tôi ngồi nghe chó sủa và những câu chuyện bệnh tật của những người trong họ ngoài làng mà buồn, mà hoang mang vô hạn. Bệnh tật là như thế, còn việc chữa bệnh đối với những người nông dân có thu nhập vài chục ngàn đồng một tháng thì thế nào? Việc chữa bệnh cho những người nông dân giờ đã thị trường hóa. Tất cả những người nông dân đều không có bảo hiểm. Vì vậy, họ đứng trước thách thức của việc chữa bệnh như đứng trước một bức tường không thể vượt qua.

Một tháng thu nhập trên dưới 40.000đ, trong khi những vỉ thuốc loại trung bình đã hơn trăm ngàn. Mà khi có bệnh, đâu phải chỉ uống một vỉ thuốc là khỏi. Giá thuốc tăng cao đẩy người nông dân đến gần hơn với cái chết. Có những người nông dân làng tôi mắt mờ dần khi tuổi còn chưa cao. Nếu đi mổ mắt để thay thủy tinh thể chẳng hạn, họ phải mất đôi ba triệu đồng chỉ cho một con mắt. Mổ cả hai mắt, tất nhiên chi phí gấp đôi. Đó là chưa kể tiền tàu xe đi lại, tiền ăn uống, tiền nằm viện, tiền bồi dưỡng các “lương y như từ mẫu”. Bởi thế, họ phải đứng trước sự lựa chọn: hoặc là bán tất cả những gì có thể bán để chữa bệnh hoặc dần trở thành người mù. Thật đau lòng là có không ít người nông dân chọn sự mù lòa.

Tôi có một người chú họ bị ngã gãy xương bả vai. Như muôn vàn người bị tai nạn như thế, ông muốn được bó bột. Nhưng, bao năm qua, không bao giờ trong túi ông có quá 50.000đ. Các con ông cũng nghèo khó quá, cay cực quá, không dám đưa ông đi bó bột. Sau nhiều đêm suy nghĩ, ông quyết định bỏ mặc cái xương bả vai bị gãy ấy. Ông không nói cho hàng xóm láng giềng biết mình bị gãy xương, âm thầm chịu đựng những cơn đau đớn do cái xương gãy gây ra.

Đến một ngày, vai ông thành tật. Lúc đó, ông mới kể chuyện cho vài người thân nghe. Ông nói: “Tôi già rồi, không lao động được nữa thì bó bột cái xương gãy cũng chẳng cần thiết. Tiền bó xương để con cái mua gạo, mua muối còn tốt hơn”.

Cách đây dăm năm, làng tôi có người bị thận suy. Nếu ông muốn sống, chỉ còn cách hoặc thay hai quả thận đó hoặc phải đến bệnh viện thường xuyên để chạy thận. Với hai con đường ấy, ông chỉ còn cách bán cả nhà lẫn ruộng mới đủ chữa bệnh. Nhưng, bán hết thì con cháu ông chỉ còn nước đi ăn mày để mà sống. Cuối cùng, ông chọn cái chết. Ông nói: nếu ông có sống đến 90 hay 100 tuổi thì cũng không thể làm ra đủ số tiền để mua lại cho con cháu nhà cửa, ruộng vườn mà ông đã bán để chữa bệnh. Vậy thì chọn cái chết là quyết định sáng suốt nhất của ông. Bạn có tin, có người đã lựa chọn cái chết cho mình một cách bi thương như thế không?

Mỗi lần nghĩ đến câu chuyện này, tôi vẫn không thoát khỏi cảm giác kinh hoàng. Nếu người đó là cha, là anh mình hay là một người ruột thịt nào đó của mình thì chúng ta sẽ nghĩ thế nào và sẽ đau đớn đến khi nào mới nguôi?

Trước những câu chuyện thực ấy, chúng ta còn cách nói nào khác hơn là phải nói rằng: những người nông dân đang bị bỏ rơi trong thế giới này. Họ cùng con cháu họ đang phải sống với rất nhiều đe dọa. Cho dù người Việt Nam ta có truyền thống lá lành đùm lá rách. Để giúp họ, cần một lương tâm rộng lớn: vì con người và một tư duy chiến lược thực sự về nông thôn và những người nông dân.

Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, nhiều làng quê đã phá đền chùa để xây dựng các công trình như sân kho hợp tác xã, trụ sở chính quyền địa phương, trường học… Tôi đã chứng kiến ngôi chùa làng tôi bị phá đi để xây trường. Chùa làng tôi rất lớn, đã có từ lâu đời, nên làng tôi còn được gọi là làng Chùa. Tôi cũng tận mắt nhìn thấy người ta ném những tượng Phật bằng đất xuống ao chùa. Sau đó, một trường cấp I đã mọc lên.

Sau khi có trường, những người nông như sống trong giấc mơ. Con cháu họ bắt đầu được đi học. Cuộc cách mạng xóa nạn mù chữ lần thứ hai được tiến hành với một quy mô rộng khắp. Trước năm 1954, phong trào bình dân học vụ coi như cuộc cách mạng xóa nạn mù chữ lần thứ nhất.

Sau khi phá chùa xây trường học, con đường mà người ta vạch ra cho một nền giáo dục ở nông thôn là một con đường lý tưởng. Bởi, chủ nghĩa xã hội được xây dựng không chỉ ở các thành phố lớn mà là trên toàn miền Bắc. Những thế hệ trẻ là con cái những người nông dân sẽ được đào tạo để phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước, mà cụ thể là nông thôn của họ. Nhưng, nền giáo dục đã không đáp ứng được bao nhiêu cho điều ấy. Hiệu quả nền giáo dục ở nông thôn xét theo chiều sâu chất lượng và sự phát triển xã hội đã gần như giẫm chân tại chỗ.

Ngày nay, với mức thu nhập “bi thương” của mình, đời sống của những gia đình nông dân đang bị những cơn bão giá tàn phá một cách thảm hại trên đường đi của nó. Toàn bộ sức lực của người nông dân gần như chỉ để duy trì mức sống tối thiểu hàng ngày cho gia đình họ. Việc sử dụng tài chính cho chuyện học hành của con cái họ là điều không tưởng. Giấc mơ lớn nhất của họ chỉ còn là tìm cách đưa con cái mình thoát cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau và con cháu mình đi… sau rốt..

Không phải những người nông dân không còn yêu những cánh đồng, vốn là mồ hôi và máu của họ. Nhưng nếu cứ làm ruộng như họ đang làm thì suốt đời phải sống trong lam lũ, thiếu thốn. Đáng buồn là, trong tay họ không có gì để thực hiện giấc mơ đó. Bắt đầu một thời đại của sự thả nổi tương lai con em những người nông dân, mà trước hết là qua việc thả nổi chuyện học hành của những đứa trẻ.

Thực tế lâu nay, những người nông dân không quan tâm đến việc nhà trường dạy gì và dạy thế nào con em họ. Họ không quan tâm đến dạy thêm, đến luyện thi, đến việc vào trường này hay trường kia. Những đứa trẻ đến trường một buổi và ra đồng một buổi. Học hết phổ thông trung học, chúng lại trở về cày cấy như ông bà, cha mẹ và anh chị chúng. Cũng có những gia đình nông dân cho con cái họ theo học ở một trường nghề nào đó nhưng khi ra trường, chúng lại cũng không xin được một việc làm nào cho tử tế.

Nhìn sự mệt mỏi của học sinh và sự hờ hững của phụ huynh, thầy cô cũng chẳng còn hứng thú mà truyền đạt kiến thức hay những giấc mơ về tương lai cho học sinh. Như vậy, hiệu quả giáo dục ở nông thôn sẽ là gì? Không ít thầy cô giáo ở các trường làng chặc lưỡi: Thôi cứ cho chúng nó lên lớp dù chẳng biết chữ gì. Học xong cũng về đi cày cấy chứ làm được trò trống gì đâu.

Hiện tượng học sinh bỏ học ở một số vùng càng ngày càng nhiều, bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính. Thứ nhất: gia đình học sinh quá nghèo khó. Thứ hai: phụ huynh ở những vùng đó nhận thấy nếu tiếp tục cho con em mình đi học cũng chỉ là kéo dài thời gian đến trường mà thôi chứ chẳng giải quyết được gì cho gia đình và cho bản thân học sinh đó. Học hành lơ mơ, học sinh là con em những người nông dân đã kém lại càng kém. Chỉ một số rất ít con em những gia đình có điều kiện mới học lên cao, còn đa số học sinh nông thôn, có đến lớp cũng thừa biết sẽ gắn cuộc đời với đồng ruộng trâu bò.

Lại phát sinh một vấn đề khác: học sinh sau khi rời ghế nhà trường trở về cày ruộng, có khi suốt nhiều năm liền không dùng đến giấy bút một lần nào, cũng không đọc một trang sách hay một mẩu báo nào, vì ở nông thôn lấy đâu ra báo, ra sách mà đọc. Trình độ của những học sinh ấy lại quay về với khởi điểm của người mới được xóa mù chữ.

Những gì chúng ta nhìn thấy khi đi qua một làng nào đó chỉ là cái vỏ bên ngoài mà thôi. Nghĩa là, chỉ thấy những ngôi nhà xi măng quét vôi vàng vôi xanh và thấp thoáng những chiếc xe máy Tàu. Thực chất, dân trí của hầu hết các làng quê là quá thấp và không được cải thiện bao nhiêu. Tất cả chỉ vì nền giáo dục hời hợt và vì chúng ta không có một chính sách nào có tính chiến lược cho nền giáo dục ở các vùng nông thôn.

Tôi đã học ở Cuba bốn năm và thấy dù rất khó khăn về kinh tế, nhưng một trong chiến lược quan trọng nhất của Chính phủ Cuba là phổ cập giáo dục ở trình độ cao cho các vùng nông thôn. Chính phủ Cuba đã dành cho giáo dục ở các vùng nông thôn những điều kiện ưu tiên đặc biệt.

Tại sao Cuba làm được
, cả trong những năm tháng đất nước này rất đói khổ mà chúng ta không làm được, ngay cả bây giờ? Bởi Chính phủ Cuba đã nhận thức một cách sống còn rằng: chiến lược về tri thức con người là chiến lược đầu tiên và tối thượng. Còn đi học cho có học và dạy cho có dạy cũng chỉ là một hình thức xóa nạn mù chữ mà thôi.

(còn tiếp)

“Chúng tôi đang mất làng” không chỉ là tiếng kêu của những người nông dân mà còn là nỗi lo chung của những người sinh ra và lớn lên từ các làng quê, giờ đang định cư trong các đô thị.

Trên những con chữ tôi đang viết, bạn đọc sẽ khó có thể cảm nhận được tiếng kêu ấy một cách đầy đủ. Nó là một thông báo giống như thông báo về một cái chết. Tôi không hề phóng đại. Cái chết của một truyền thống hay của một nền văn hóa thường không được nhận ra ngay.

Những gì tạo nên một làng Việt Nam truyền thống đang càng ngày bị phá vỡ. Theo suy nghĩ của cá nhân tôi, có hai nền tảng cơ bản của một làng Việt Nam truyền thống đang bị phá vỡ. Thứ nhất là mô hình kiến trúc làng truyền thống. Thứ hai là bản chất của văn hóa làng. Sự phá vỡ này dẫn đến sự hủy diệt làng Việt Nam.

Công cuộc đô thị hóa nửa vời và thiếu trách nhiệm ở các vùng quê đã đẩy mô hình kiến trúc làng vào một bi hài kịch. Các nhà quy hoạch và quản lý nông thôn dường như không hề có khái niệm gì về làng truyền thống và cũng không có trách nhiệm gì về sự phát triển nông thôn. Không có một luật nào quy định việc bảo tồn thiên nhiên và kiến trúc làng; cũng không có một hướng dẫn nào của những người quản lý và quy hoạch nông thôn cho việc đó.

Kiến trúc ở nông thôn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 là một kiến trúc tồi tệ nhất trong lịch sử kiến trúc Việt Nam. Nó hỗn tạp đến kinh hoàng. Chỉ lấy ví dụ về kiến trúc ở các vùng nông thôn của một số nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, sẽ thấy các nhà quản lý và quy hoạch nông thôn Việt Nam chính là thủ phạm phá hỏng các làng Việt Nam truyền thống. Các làng ở các nước vừa kể vẫn lưu giữ được những vẻ đẹp và tính truyền thống của kiến trúc đặc trưng, đồng thời vẫn có những tiện ích cho một đời sống hiện đại. Vì thế, không thể lấy lý do của đời sống công nghiệp mà biện minh cho những sai lầm trong kiến trúc nông thôn hiện đại.

Những người nông dân cũng không có nhận thức và kiến thức đúng về vấn đề này, nhưng họ không hề có lỗi. Các nhà quản lý và quy hoạch nông thôn phải có chiến lược tuyên truyền cho họ và có luật pháp để ngăn chặn sự tùy tiện của họ. Làng Việt Nam truyền thống không phải là một cụm cư dân lâu đời mà là nơi sinh ra văn hóa Việt. Thử làm phép loại trừ, bạn sẽ nhận ra rằng, chúng ta chẳng còn gì khi không còn văn hóa làng.

Hầu hết những người có hiểu biết và có ý thức đều kinh hoàng và thất vọng khi nhìn thấy ngày càng nhiều làng quê Việt Nam chỉ còn là một đống bê tông thô thiển, nặng nề, vô cảm. Tôi tin chắc rằng, 30, 50 năm sau hoặc có thể lâu hơn chút nữa, người ta sẽ phải phá bỏ những ngôi nhà và những công trình công cộng ở các làng quê hiện nay để tìm lại những giá trị văn hóa của làng, tìm lại chính mình.

Kiến trúc nông thôn là hình thức của làng truyền thống thì lối sống của người thôn quê là bản chất của văn hóa làng. Nhưng, lối sống của những người nông dân đang thay đổi quá nhiều. Những năm gần đây, việc xây dựng lại đền chùa, tổ chức lại các lễ hội không phải là sự phục hưng văn hóa làng, vì ngay chính trong việc xây dựng lại đền chùa, tổ chức lại lễ hội ấy chứa đựng tính thực dụng quá nhiều.

Chính những hoạt động lễ hội ở các làng hay các vùng quê trong một hai thập niên trở lại đây, đã gián tiếp giết chết bản chất của các lễ hội truyền thống. Những hoạt động gọi là văn hóa khác lại rơi vào tính phong trào. Cứ như thế, những hoạt động đó từng bước phá vỡ sự thuần khiết của tâm hồn con người ở thôn quê.

Bây giờ, những người nông dân không đói nghèo như trước kia, nhưng theo đó là họ đã không còn tin nhau nữa. Họ đang đánh mất tính cộng đồng rất đặc biệt của làng xóm Việt Nam. Chủ nghĩa thực dụng đã gặm nát truyền thống tối lửa tắt đèn có nhau của người thôn quê. Chủ nghĩa thực dụng này hiện hữu ngay trong cả nhiều hoạt động từ thiện rầm rộ.

Tôi còn nhớ mãi câu chuyện mẹ tôi kể về những người hàng xóm đã giúp đỡ một gia đình nghèo khó trong xóm tôi như thế nào. Ngày ấy, mỗi nhà ở quê chỉ có một cái cổng ngõ hoặc một bờ giậu sơ sài, ai cũng có thể vào được. Họ đã phân công từng gia đình bí mật bỏ lúa bỏ khoai vào bồ của gia đình nghèo khó đó, mỗi người một ít, mỗi lúc một ít. Họ làm vậy để gia đình nghèo khó kia không thể nhận ra ngay sự giúp đỡ của người khác. Họ đã vì nhau mà không cần quảng bá “lòng tốt” của mình, cho thiên hạ biết. Khi đã tìm cách quảng bá cho thiên hạ biết “lòng tốt” của mình, thì chủ nghĩa thực dụng đã nằm sẵn trong đó rồi.

Giờ thì chẳng thể tìm được những câu chuyện như vậy nữa. Từ đó đến nay mới chỉ hơn 30 năm mà lòng người đã đổi thay quá nhiều. Bây giờ con người đâu đói khổ như 30 năm trước, nhưng lòng tham
và thói ích kỷ lại tăng lên gấp bội. Quan hệ giữa người này với người kia, giữa nhà này với nhà khác trong làng ngày càng giống quan hệ của những người ở chốn đô thị. Mỗi một cộng đồng dân cư có những đặc điểm trong sinh hoạt cộng đồng khác nhau, nếu làng mất đi quan hệ tối lửa tắt đèn có nhau thì có nghĩa là văn hóa làng đang mất.

Chúng ta thường nói nhiều về sự tăng trưởng kinh tế, nhưng lại chẳng mấy khi nói về sự phát triển nhân cách và tâm hồn con người. Ngay cả trong các sáng tác văn học nghệ thuật, nơi lẽ ra chỉ dành để tôn vinh cái đẹp và sự dâng hiến, cũng lại chứa đầy thói vị kỷ và tự phụ của chúng ta.

Đối với dân tộc Việt Nam thì làng, nơi khởi sinh và cũng là nơi trú ngụ cuối cùng những vẻ đẹp thuần khiết của tâm hồn đã và đang bị phá vỡ. Tâm hồn chúng ta sẽ tìm về đâu để được trú ngụ, để được phục sinh trong cội nguồn văn hóa? Những công dân cuối cùng của làng quê Việt Nam đang kêu cứu: “Chúng tôi đang mất làng”. Làng mất đi, họ mất đi, thay vào đó sẽ là những con người của chủ nghĩa thực dụng và thói vô cảm.

THƯ CỦA MỘT ĐỨA CON CỦA NHỮNG NGƯỜI NÔNG DÂN – Nguyễn Quang Thiều

Photobucket
.

Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót một lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho bằng được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó cất tiếng hót bài ca của mình và lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả họa mi và sơn ca phải ghen tị. Bài ca duy nhất, có một không hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được. Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và chính thượng đế trên thiên đình cũng phải mỉm cười. Bởi vì tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại… Ít ra là truyền thuyết nói như vậy.

.

Câu chuyện bắt đầu với cô bé 4 tuổi Meghann “Meggie” Cleary (Meggie) sống ở New Zealand vào đầu những năm 1900s. Cha Meggi là tá điền người Ai-len, ông Paddy và mẹ cô là bà Fee. Meggi là một cô bé xinh xắn có mái tóc xoăn hung đỏ nhưng cô rất ít được các anh trai yêu thương. Người cô yêu quý nhất là anh cả Frank, thấp khỏe và không giống các anh trai khác, Frank có mắt và tóc đen.

Ông Paddy nghèo nhưng có chị gái, bà Mary Carson giàu có sở hữu một trang trại cừu rất rộng lớn tên là Drogheda ở Úc. Bà Mary mời ông Paddy đến làm việc ở ttrang trại. Cả gia đình chuyển đến Outback.

Ở đây, Meggie gặp Cha Ralph de Bricassart, một linh mục trẻ năng lực và nhiều tham vọng, bị điều động đến giáo xứ xa xôi ở thị trấn Gillanbone gần Drogheda vì lỡ xúc phạm Đức Giám Mục. Cha Ralph kết thân với Mary, với mục đích bà có thể gây ảnh hưởng lớn để ông nhanh chóng kết thúc hình phạt. Cha Ralph rất đẹp trai và Mary thường không giấu diếm cảm xúc dành cho ông. Cha phớt lờ điều này và vẫn đến thăm bà thường xuyên. Cha quan tâm đến gia đình Cleary và rất chiều bé Meggie bé nhỏ xinh xắn, cô độc. Ngược lại Meggie xem cha là mối quan tâm nhất của mình.

Quan hệ giữa Frank và ông Paddy không bao giờ tốt đẹp. Cả hai đều quan tâm đến Fee, Frank thường chỉ trích ông Paddy về việc bà Fee sinh quá nhiều con. Một ngày nọ, bà Fee cho biết bà lại có thai, cả hai người đàn ông này cãi nhau kịch liệt và Paddy buột miệng nói với Frank sự thật Frank không phải là con trai ông. Bà Fee vốn là con nhà danh giá, bà yêu một chính trị gia đã có gia đình, kết quả là có thai. Bà buộc phải cưới Paddy khi đã mang thai 18 tháng. Frank chính là đứa con đại diện cho tình yêu đã bị mất nên bà yêu Frank hơn những đứa con khác. Frank bỏ nhà đi làm vận động viên đấm bốc khi biết Paddy không phải là cha mình mặc cho Meggie và Fee rất đau buồn.

Bà Fee sinh đôi 2 cậu con trai, Jim và Pasty, nhưng hầu như bà cũng không mấy quan tâm tới chúng. Thời gian ngắn sau, cậu anh trai nhỏ Hal mà Meggie cũng rất yêu quý qua đời.

Sau khi Frank bỏ đi và Hal mất, Meggie càng gắn bó với cha Ralph hơn. Điều này đến rất tự nhiên vì cha Ralph là người khuyên nhủ, chia sẻ mọi điều trong cuộc sống vốn cô độc của cô. Tuy nhiên khi Meggie bước vào tuổi dậy thì người ta bắt đầu nghi ngại về mối quan hệ này, kể cả cha Ralph và Meggie. Mary Carson nhận thấy mối quan hệ rất khăng khít giữa 2 người và với sự ghen tuông và độc ác của mình bà kên kế hoạch chia cắt cha Ralph và Meggie bằng cách dụ dỗ cha một vị trí cao hơn ở Nhà thờ. Mặc dù đã lập một bản di chúc cho Paddy hưởng gia tài, bà lại lập một bản di chúc mới trong đó Nhà thờ Thiên chúa giáo sẽ là người thừa kế gia tài của bà và cha Ralph là người thực hiện.

Trong bản di chúc mới, tài sản thực sự của Mary cuối cùng đã được tiết lộ. Drogheda không phải là tài sản duy nhất như cha Ralph và Paddy nghĩ mà đó chỉ là một “thú vui” trong vô số tài sản của bà. Tài sản của trị giá khoảng 13 triệu Bảng Anh. Và gia sản khổng lồ đó đã đảm bảo cho cha Ralph có thế nhanh chóng nâng vị thế của mình. Bà muốn cha Ralph sẽ là người đầu tiên và duy nhất biết đến bản di chúc mới và buộc phải lựa chọn giữa Meggie và công danh của mình. Di chúc mới cũng nêu rõ gia đình em trai sẽ được ở lại Drogheha nếu họ muốn.

Vào ngày sinh nhật thứ 72 của mình, Mary qua đời. Cha Ralph kịp biết về bản di chúc mới và lập tức nhận ra ngay sự khôn khéo trong kế hoạch do Mary vạch ra và mặc dù ông gọi bà là “con nhện già gớm ghiếc” ông tức tốc đến gặp luật sư của Mary. Ông luật sư khuyên cha Ralph nên hủy bản di chúc đi nhưng không được. Gia sản 13 triệu Bảng Anh đã khiến cho cha Ralph tăng vị thế ở nhà Thờ nhanh chóng

Trước khi lên đường, Meggie đã thổ lộ tình yêu của mình đối với ông nhưng Cha Ralph từ chối bởi vì ông là linh mục và khuyên Maeggi yêu và lập gia đình với người khác

Gia đình Cleary nhận được tin Frank phạm tội giết người trong khi đánh bốc ở một trận đấu và phải ở tù 30 năm.

Ông Paddy chết trong một trận hỏa hoạn do sấm chớp và Stu lợn lòi giết khi vừa mới tìm thấy xác cha. Không hề biết đến cái chết của Frank và Stu, cha Ralph tình cờ trở về Drogheda, ông bị thương nhẹ do máy bay vướng vào bùn. Meggie băng bó vết thương cho ông và cha Ralph ở lại Drogheha một chút để dự đám tang.

3 năm sau, Luke O’Neill, một người làm thuê mới cho trang trại tên, bắt đầu tán tỉnh Meggie. Mặc dù động cơ của hắn ta là vụ lợi nhưng Meggie vẫn cưới hắn vì hắn hao hao giống cha Ralph. Nhưng rồi cô lại thấy hối hận ngay sau đó. Luke là một người bủn xỉn, xem phụ nữ như một món đồ. Trước khi đến đồn điền mía làm việc, hắn đã sắp xếp cho Meggie làm giúp việc cho gia đình Muller và quản lý hết tiền tiết kiệm, tiền công của Meggie.Hắn bảo với Meggie là hắn muốn tiết kiệm để mua trại ấp, nhưng dường như hắn ta luôn mải mê với công việc chặt mía. Với ý định thay đổi con người của Luke, Meggie cố tình có em bé và sinh cho Luke một đứa con gái tóc hung, Justine nhưng dường như Luke cũng chẳng mấy quan tâm đến con.

Cha Ralph đến thăm Meggie để chào tạm biệt bởi vì ông sắp rời Úc đi Rome. Ông rất buồn vì thấy Meggie không hạnh phúc. Justine rất hay khóc quấy làm Meggi mệt mỏi nên gia đình Mueller muốn Meggie đi nghỉ ở đảo. Cha Ralph trở về. Bà Mueller cho biết Meggie đang đi nghỉ và ông đã đến hòn đảo đó với cô. Ở đảo, họ đã yêu nhau và cha Ralph nhận ra rằng ông vẫn rất yêu Meggie cho dù tham vọng của ông là muốn trở thành một vi linh mục hoàn hảo. Cha Ralph quay lại nhà thờ và Meggie có thai. Cô chia tay Luke và trở về Drogheda.

Ở đây cô hạ sinh cậu con trai xinh xắn tên là Dane. Bà Fee nhận thấy Dane rất giống cha Ralph ngay từ khi mới sinh ra. Và dường như bà thương Meggie hơn. Justine là cô gái độc lập, thông minh và rất mực yêu thương Dane.

Cuối cùng Frank được ra tù và trở về Drogheda; mệt mỏi, vô vọng. Các anh còn lại của Meggie cũng không lập gia đình.

Cha Ralph đến Drogheda sau một thời gian dài vắng bóng và lần đầu tiên gặp Dane; mặc dù cha thấy rất quý mến cậu bé nhưng vẫn không hề biết đó là con trai mình. Dane lớn lên và quyết định trở thành linh mục. Meggie rất buồn phiền vì điều đó, như bà Fee đã nói cái gì Meggie lấy từ Chúa thì phải trả lại cho Chúa. Còn Justine thì muốn trở thành diễn viên và cô đến nước Anh để thực hiện giấc mơ của mình. Cha Ralph trở thành Hồng Y và trở thành người chỉ giáo cho Dane học linh mục. Dane cũng không hề hay biết về mối quan hệ của họ. Cha Ralph rất tận tâm với Dane và vì họ khá giống nhau nên mọi người cứ lầm tưởng đó là họ là chú cháu.

Nội chiến bắt đầu và Dane đi nghỉ ở bãi biển Hy Lạp. Dane bị đột tử sau khi cứu 2 phụ nữ bị nước xoáy. Meggie cho cha Ralph biết Dane chính là con trai của ông. Họ cùng bay đến Hy Lạp và mang Dane về Drogheha. Sau đám tang, cha Ralph mất vì quá đau buồn.

Justine lấy Rainer, một chính trị gia người Đức tài giỏi, đã theo đuổi cô trong nhiều năm nhưng họ vẫn không có ý định về Drogheda sinh sống ./. – THE END –

.

Tác giả đã chọn tựa đề cho cuốn sách của mình từ một truyền thuyết của Úc: câu chuyện về tiếng chim hót trong bụi mận gai.

Dường như tác giả muốn lấy hình ảnh đó để kể về tình yêu với những thăng trầm xen kẽ như bản tình ca lúc trầm lúc bổng – Ralph lặng lẽ chăm sóc cô bé Meggie ngày nào với tình yêu lớn dần chật chội trong cái định nghĩa cha xứ – giáo dân, những giây phút khi Ralph thả mình trong những nụ hôn và ôm xiết ngắn ngủi của Meggie những lần ghé thăm Drogheda, sự ấm áp bao la khi Ralph ở bên cạnh Meggie cùng cô vượt cạn, sự thăng hoa khi Ralph tìm gặp Meggie ở Matlock. Để rồi sau đó, lại tiếp tục những tháng ngày đằng đẳng xa cách gậm nhắm nỗi trống vắng, dày vò đến với cả hai…

Tình yêu của Ralph và Meggie không đơn thuần là sự nóng bỏng, cuồng nhiệt như đôi trai gái trẻ tuổi, hay chỉ là nét chín chắn của cặp tình nhân trưởng thành mà là một sự giao thoa giữa sự nồng nàn, cái hừng hực của niềm đam mê bất tận song song với sự sâu lắng tuôn chảy âm thầm vật vã của một tình yêu chân chính.

Nỗi ám ảnh, nỗi day dứt về một tình yêu không trọn vẹn đeo đẳng trong tâm khảm của Meggie khiến cô chấp nhận lấy Luke vì anh ta có nét hao hao giống cha Ralph. Đó là hành động bồng bột chỉ để thỏa mãn cái khát vọng quay quắt được làm chủ một phần nào của Ralph, muốn mau chóng khỏa lấp cái cảm giác bị chối bỏ tình yêu. Dù biết rằng mình sẽ không bao giờ có được hoàn toàn người đàn ông ấy, cả trái tim lẫn con người, đấu tranh và giằng xé, để rồi lại thấy mình tiếp tục yêu. Chấp nhận cái tình yêu đến trọn đời với con người luôn ngoài tầm tay với đó.

“Quì trên nền đá cẩm thạch trong nhà nguyện đến tê dại và đau nhức cả toàn thân, cha mới có thể đè nén cái hăm hở muốn đáp ngay chuyến tàu đầu tiên trở về Drogheda. Cha tự thuyết phục mình tuồng như chẳng có gì thay đổi khi cha đã có một phút yếu đuối đáp lại cái hôn của Meggie” . Thời gian trôi qua mà nỗi đau không giảm bớt. Trái lại nó càng giày vò mãnh liệt, biến thành một khổ hình lạnh lùng gớm ghiếc. Trước sự cô đơn không có diện mạo, cha chưa từng bao giờ nghĩ rằng sẽ có một người bước vào đời cha và có thể chữa lành bệnh cho cha. Bây giờ sự cô đơn có tên là Meggie.

Quyển sách khép lại nhưng cứ khiến cho người đọc day dứt về sự cô độc, nỗi đau chia xa, sự giằng xé giữa tình yêu – tham vọng và cả một tình yêu không trọn vẹn. Tất cả rồi cũng sẽ trở thành tro bụi…

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.