
Tôi chọn năm 1954 là điểm xuất phát đường đi của những người nông dân, vì đó là thời điểm miền Bắc giải phóng hoàn toàn khỏi ách cai trị của người Pháp. Suốt chặng đường dài hơn nửa thế kỷ ấy, trên cánh đồng của mình, người nông dân đã đi được đến đâu? Họ có biến được giấc mơ về sự giàu có và văn minh thành hiện thực không?
54 năm qua, những người nông dân không một ngày ngừng cày cuốc, nhưng ngẩng lên nhìn lại, họ kinh hãi nhận ra: họ đã đang đi theo một vòng tròn, đang có nguy cơ trở lại điểm xuất phát.
Nếu có ai phản biện điều tôi vừa nói, xin đừng dùng hình thức bên ngoài trong đời sống của người nông dân để làm bằng chứng cho những phản biện của mình. Đời sống sinh hoạt tuy có thay đổi, nhưng những thay đổi ấy không có ý nghĩa nhiều lắm so với sức lao động và sự hy sinh của họ hơn nửa thế kỷ qua. Nếu chúng ta nhìn gần hơn nữa vào hiện thực trên cánh đồng của họ, nhìn sâu hơn nữa vào ngôi nhà họ, tôi tin, chúng ta không thể cầm lòng.
Trước năm 1954, những người nông dân là những người làm thuê cho các chủ đất mà chúng ta gọi là địa chủ. Sau khi miền Bắc được giải phóng kéo theo cuộc cách mạng ruộng đất lớn, đất đai không còn thuộc về những chủ đất trước đó nữa, nhưng người nông dân vẫn chưa thực sự trở thành người chủ sở hữu đất đai của họ. Hợp tác xã được thành lập. Trước kia, đất đai thuộc sở hữu của một cá nhân, nay thuộc sở hữu của một tập thể những cá nhân. Người nông dân vẫn chỉ là những người làm công ăn điểm. Họ không được quyền quyết định hình thức và nội dung sản xuất. Chỉ đến khi khoán quản ra đời, vai trò tự chủ của người nông dân đối với mảnh đất của họ mới được xác lập một phần. Nhưng, quyền sở hữu đất đai vẫn chưa thuộc về họ.
Lý thuyết về khoán quản là của ông Kim Ngọc, nhưng người thực hiện thành công đầu tiên lại là những người nông dân xã tôi – xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Ngày đó, các ông Phạm Văn Đồng, Tố Hữu và một số vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã về xã tôi để tận mắt nhìn sự thay đổi lạ lùng này. Báo Nhân Dân đã có hẳn một bài báo với dòng tít lớn: Sơn Công, câu trả lời cho vấn đề nông nghiệp Việt Nam. Ông chủ nhiệm Hợp tác xã Sơn Công đã trở thành đại biểu Quốc hội ngay sau đó, dù ông mới chỉ học hết lớp ba.
Nhưng, từ đó đến nay, phương thức sản xuất nông nghiệp của những người nông dân vẫn không thay đổi đáng kể. Đầu những năm 1950 của thế kỷ trước, hệ thống tưới tiêu, hệ thống cơ giới và kỹ thuật nông nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp khá tốt. Ngày đó, người nông dân được tuyên truyền về tương lai của những cánh đồng, về thời đại cơ giới hóa, máy móc và kỹ thuật sẽ trợ giúp việc canh tác của họ. Bản thân những người nông dân cũng tin và mơ ước như thế.
Nhưng cho đến bây giờ, sau mấy chục năm, giấc mơ cơ giới hóa nông nghiệp coi như tan biến. Ngay cả những người tuyên truyền về giấc mơ này cũng “ngủ” thiếp từ lâu.
Thay vào giấc mơ cơ giới hóa là sự trở về của hiện thực con trâu đi trước cái cày theo sau. Hình ảnh này trước kia được dùng để nói về nỗi thống khổ và lạc hậu của người nông dân, giờ lại là hình ảnh quá quen thuộc trên những cánh đồng. Mà ngay đến trâu bò cũng không đủ cho nông dân cày ruộng.
Có một điều kỳ lạ là thi thoảng chúng ta vẫn thấy, trên truyền hình hồ hởi đưa tin những người nông dân sáng chế ra máy gặt lúa, tuốt lúa, máy gieo hạt… như một thành tựu khoa học. Xin hỏi, những nhà sáng chế nhiều bằng cấp trong các viện sáng chế của Nhà nước đang ở đâu và đang làm gì mà để cho mấy người nông dân, có khi chỉ học hết lớp ba trường làng, hì hục tự chế ra những phương tiện để bớt nỗi vất vả của họ?
Từ năm 1954, chúng ta đã bắt đầu đào tạo kỹ sư nông nghiệp một cách có hệ thống. Theo tôi biết, mỗi năm ít nhất có khoảng vài trăm kỹ sư nông nghiệp ra trường. Nhưng suốt một nửa thế kỷ qua, ở rất nhiều vùng quê tôi biết, không hề có lấy một ông (bà) kỹ sư nông nghiệp nào về sống, làm việc cùng nông dân và hướng dẫn họ. Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì người nông dân cả nước vẫn đang sản xuất nông nghiệp theo bản năng và thói quen như tổ tiên họ trước kia.
Những người nông dân khi được hỏi đến đều buồn bã cho rằng không ai quan tâm đến họ. Nhiều người nói: chúng tôi đang được quan tâm vì người ta muốn lấy ruộng để làm dự án! Người nông dân được đền bù một số tiền mà họ chưa bao giờ có. Nhưng, những đồng tiền bù đó là những đồng tiền mua sự thất nghiệp và những thách thức khác mà chính người nông dân không thể biết. Cái chính sách mà họ thực sự cần là chính sách tạo công ăn việc làm cho họ và con cháu họ sau khi không còn đất để cấy trồng nữa, nhưng một chính sách cụ thể như thế, cho đến giờ, không một người nông dân nào nhìn thấy, thậm chí nghe thấy.
Những người nông dân đang đi theo một vòng
tròn. Đó không phải là ý của tôi mà là ý của những người nông dân làng tôi. Họ nói: “Ngày xưa ông bà chúng tôi làm ruộng thế nào bây giờ chúng tôi vẫn làm như thế. Chỉ khác là bây giờ có điện. Nhưng, cứ vào ngày mùa thì điện lại bị cắt”.