A sudden feeling comes to me. Lonely…
Who knows what will be tomorrow
Who knows the long road we are walking on leads to somewhere
I feel so uncertain.
About the future, about my life
A sudden feeling comes to me. Lonely…
Who knows what will be tomorrow
Who knows the long road we are walking on leads to somewhere
I feel so uncertain.
About the future, about my life
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »
Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!
Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Một người đàn ông già ốm yếu chuyển đến sống cùng với người con trai, con dâu và một cháu trai bốn tuổi. Ông đã quá già nên bàn tay ông run run, mắt thì mờ và bước đi loạng choạng. Cả nhà cùng nhau ăn bữa tối nhưng bàn tay người cha già run rẩy nên rất khó khăn trong việc ăn uống, ông đã làm rơi vãi thức ăn xuống sàn. Khi ông cố cầm lấy chiếc cốc thì sữa lại sóng sánh ra khăn trải bàn.
Người con trai và người con dâu bắt đầu trở nên khó chịu với tình trạng bừa bộn của ông. Người con trai bèn nói với vợ: “Chúng ta phải làm cái gì đó cho cha, tôi chịu đựng quá đủ những thứ như sữa tràn ra ngoài, tiếng loảng xoảng trong ăn uống và thức ăn rơi xuống sàn rồi”. Thế rồi vợ chồng người con liền để một chiếc bàn nhỏ ở góc nhà.
Vậy là từ đó người cha già ăn một mình ở chiếc bàn nhỏ trong khi cả nhà vui vẻ bên chiếc bàn lớn. Ông lại làm vỡ chiếc đĩa của mình mấy lần và người con lại chuyển cho ông sang chiếc bát gỗ để đựng thức ăn. Họ chỉ nhìn lướt qua ông rồi lại vui vẻ trò chuyện với nhau, mặc cho những giọt nước mắt ứ đọng trong đôi mắt người cha khi ông ngồi ăn một mình. Thỉnh thoảng họ lại càu nhàu khiển trách ông mỗi lần ông làm rơi thìa hay thức ăn ra ngoài. Chỉ riêng đứa con trai bốn tuổi của họ thì im lặng theo dõi tất cả.
Vào một buổi tối trước bữa ăn, người cha chú ý đứa con nhỏ của mình đang nghịch những mảnh gỗ trên sàn. Anh ta ấu yếm hỏi đứa trẻ: “ Con đang làm gì vậy?”. Đứa trẻ mỉm cười trả lời: “Con đang làm những chiếc bát gỗ nhỏ để cha mẹ đựng thức ăn khi sau này con lớn”.
Đứa trẻ tiếp tục mỉm cười nhìn cha rồi nhanh chóng quay trở lại công việc dở dang của nó. Câu trả lời của đứa trẻ khiến bố mẹ nó sững sờ.
Nước mắt bắt đầu lăn trên má họ. Mặc dù không có một lời nào được thốt ra nhưng họ biết họ cần phải làm gì.
Tối hôm ấy, người con trai, cầm tay bố và dịu dàng dắt ông cụ trở về bàn ăn của gia đình. Từ đó người cha già lại bắt đầu cùng ngồi ăn với con cái và đứa cháu nhỏ. Vợ chồng người con cũng không còn để ý đến những chuyện như chiếc thìa bị rơi, sữa đổ ra ngoài hay chiếc khăn trải bàn bị bẩn nữa.
Lời bàn:
Trẻ con có những cảm nhận rất ngây thơ. Chúng quan sát bằng mắt, chúng lắng nghe bằng đôi tai và tư duy của chúng được hình thành khi tiếp nhận những thông điệp từ người lớn. Nếu chúng nhìn thấy ta đang cố gắng tạo dựng một bầu không khí gia đình ấm ấp và đầy yêu thương cho những thành viên trong nhà, chúng sẽ học theo thái độ đó cho cuộc sống của chúng khi lớn lên, từng cử chỉ nhỏ bé thôi cũng sẽ tạo nên nhân cách tương lai của đứa trẻ.
Tôi cũng đã học được rằng, dù cho bạn có yêu hay không thương yêu cha mẹ bạn, bạn cũng sẽ nhớ tiếc họ, khi họ đã đi ra khỏi cuộc đời của bạn.
Tôi đã học được rằng: kiếm sống trong đời không giống như là tạo dựng một cuộc đời.
Tôi cũng học được rằng, đời sống đôi khi ban cho ta một cơ may thứ hai.
Tôi cũng học được rằng chúng ta không thể nào chỉ biết tìm cách ôm bắt tất cả mọi sự trong đời. Chúng ta cũng phải có thể ném ra và cho đi.
Tôi đã học được rằng: nếu chúng ta theo đuổi hạnh phúc, nó sẽ lẫn tránh ta. Nhưng nếu chúng ta tập trung vào gia đình, bạn bè, vào nhu cầu của người khác, vào công việc của mình và cố gắng làm mọi sự tốt đẹp nhất, thì hạnh phúc sẽ tìm đến với ta.
Tôi đã học được rằng mỗi khi tôi quyết định một điều gì với một trái tim rộng mở, thì tôi thường quyết định đúng đắn.
Tôi đã học được rằng ngay cả khi tôi đang đau đớn, tôi không phải là nỗi đau cho kẻ khác.
Tôi đã học được rằng mỗi ngày qua tôi phải vươn ra và chạm đến một người khác.
Người ta thích những cử chỉ thân thiện – cầm tay, ôm chặt hay chỉ cần một cái vỗ nhẹ vào vai.
Tôi đã học được rằng tôi còn phải học hỏi rất nhiều hơn nữa!
.
A frail old man went to live with his son, daughter-in-law, and four-year old grandson. The old man’s hands trembled, his eyesight was blurred, and his step faltered. The family ate together at the table.
But the elderly grandfather’s shaky hands and failing sight made eating difficult. Peas rolled off his spoon onto the floor. When he grasped the glass, milk spilled on the tablecloth.
The son and daughter-in-law became irritated with the mess. “We must do something about father,” said the son. “I’ve had enough of his spilled milk, noisy eating, and food on the floor.”
So the husband and wife set a small table in the corner. There, Grandfather ate alone while the rest of the family enjoyed dinner. Since Grandfather had broken a dish or two, his food was served in a wooden bowl!
When the family glanced in Grandfather’s direction, sometime he had a tear in his eye as he sat alone. Still, the only words the couple had for him were sharp admonitions when he dropped a fork or spilled food.
The four-year-old watched it all in silence.
One evening before supper, the father noticed his son playing with wood scraps on the floor. He asked the child sweetly, “What are you making?”
Just as sweetly, the boy responded, “Oh, I am making a little bowl for you and Mama to eat your food in when I grow up.” The four-year-old smiled and went back to work .
The words so struck the parents so that they were speechless. Then tears started to stream down their cheeks. Though no word was spoken, both knew what must be done.
That evening the husband took Grandfather’s hand and gently led him back to the family table. For the remainder of his days he ate every meal with the family. And for some reason, neither husband nor wife seemed to care any longer when a fork was dropped, milk spilled, or the tablecloth soiled.
Lessons:
Children are remarkably perceptive. Their eyes ever observe, their ears ever listen, and their minds ever process the messages they absorb. If they see us patiently provide a happy home atmosphere for family members, they will imitate that attitude for the rest of their lives. The wise parent realizes that every day that building blocks are being laid for the child’s future.
On a positive note, I’ve learned that, no matter what happens, how bad it seems today, life does go on, and it will be better tomorrow.
I’ve learned that you can tell a lot about a person by the way he/she handles four things: a rainy day, the elderly, lost luggage, and tangled Christmas tree lights.
I’ve learned that, regardless of your relationship with your parents, you’ll miss them when they’re gone from your life.
I’ve learned that making a “living” is not the e same thing as making a “life..”
I’ve learned that life sometimes gives you a second chance.
I’ve learned that you shouldn’t go through life with a catcher’s mitt on both hands. You need to be able to throw something back.
I’ve learned that if you pursue happiness, it will elude you. But if you focus on your family, your friends, the needs of others, your work and doing the very best you can, happiness will find you.
I’ve learned that whenever I decide something with an open heart, I usually make the right decision.
I’ve learned that even when I have pains, I don’t have to be one.
I’ve learned that every day, you should reach out and touch someone.
People love that human touch — holding hands, a warm hug, or just a friendly pat on the back.
I’ve learned that I still have a lot to learn!
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

I stand alone in the darkness
the winter of my life came so fast
memories go back to childhood
to days I still recall
Oh how happy I was then
there was no sorrow there was no pain
walking through the green fields
sunshine in my eyes
I’m still there everywhere
I’m the dust in the wind
I’m the star in the northern sky
I never stayed anywhere
I’m the wind in the trees
would you wait for me forever ?
would you wait for me forever ?
will you wait for me forever ?
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Thank you Mom for your unconditional love you give to me. HAPPY DAY TO YOU.
Take good care of yourself because I really care.
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Chúng ta ít nhất một lần đã nổi giận về sự ngột ngạt, về những cuộc tắc nghẽn giao thông trong cái nóng hầm hập, về một ngày nghỉ không biết tìm đâu một nơi yên tĩnh của thiên nhiên, về những ngột ngạt vô cớ trong lòng chúng ta… Chúng ta đang bị chính chúng ta giết dần, giết mòn…
Khi hơi nóng vừa mới chờm qua thành phố thì chúng ta đã nhận ra chúng ta đang sống trong một “sa mạc”. Những ngôi nhà bê tông bắt đầu được nung nóng bởi nắng trời và thiêu đốt chúng ta. Chúng ta bị nhốt trong một thế giới trùng trùng những bức tường khô nóng và vô cảm.
Vào buổi chiều và buổi sáng, chúng ta, những công dân của một thành phố lớn nhất Việt Nam giống như những con cá sặc bùn lao đến những nơi nào có thể thở được. Các công viên lớn nhỏ và những khoảng không gian còn một chút thoáng đãng của thành phố như mảnh đất cuối cùng chưa bị ngập nước. Và chúng ta giống những con kiến chạy nước dồn hết vào đó.
Hơi nóng và sự ngột ngạt của một không gian đang từng ngày bị hủy hoại làm chúng ta nhiều lúc tưởng hóa điên. Đã nhiều năm nay, chúng ta đã được nghe những lời than thở như một tiếng kêu vô vọng của những người quanh mình: “Ngột ngạt quá, chết mất thôi”.
Nhưng cả những khoảng trống còn lại trong thành phố cũng mù bụi và ngột ngạt. Cảm giác thành phố không đủ oxy để thở luôn luôn ám ảnh chúng ta ngay cả khi ngồi trong nhà mình hay trong công sở sang trọng đầy tiện nghi.
Mấy năm trước, khi đi qua những khu đất rộng ở quanh khu Mỹ Đình, không ít người lại mơ về những khu rừng nhỏ trong thành phố. Nhưng sau cơn mơ ấy người ta lại bị nỗi sợ hãi xâm chiếm khi nghĩ đến một lúc nào đó những khu đất ấy lại dựng lên một thế giới bê tông và cướp mất đi một nơi để chúng ta thở. Và nỗi sợ hãi ấy đã và đang từng ngày trở thành hiện thực.
Tại sao lại không giành những khu đất như vậy để biến chúng thành những rừng cây? Đó chính là những lá phổi tối quan trọng giữa những khu đô thị như một khối bê tông đặc. Có phải chúng ta không hiểu biết? Không phải thế. Tất cả đều nhận thức được điều đó. Nhưng có lẽ lòng tham trước mắt và sự vô trách nhiệm đã biến chúng ta thành những “tội đồ” của chính thành phố mà mình sống và chết trong đó.
Linh hồn của những hồ nước bị bức tử
Tôi có một người bạn thường mang những cơn mộng mị u buồn trong giấc ngủ. Anh thường mơ thấy những hồ nước xanh như ngọc bay lơ lửng trên bầu trời thành phố đêm. Anh gọi đó là linh hồn những hồ nước đã bị bức tử.
Thật sự đã có người nghĩ anh bị bệnh tâm thần và khuyên anh đến khám bác sỹ. Nhưng đấy đâu phải là một căn bệnh. Đấy là một giấc mơ đau đớn khi chính chúng ta đã lấn chiếm hoặc san lấp những hồ nước để xây dựng những khối bê tông quỉ quái.
Chúng ta đang đối xử tàn nhẫn với thiên nhiên. Chúng ta lấn chiếm hồ nước và chặt phá cây xanh ngay trong thành phố ngột ngạt và ô nhiễm nặng nề của mình. Chúng ta không thể trả lời được vì sao những hồ nước, những món quà vô giá của thiên nhiên ban tặng, lại bị chúng ta xả những nguồn nước ô nhiễm, vứt các loại rác thải.
Chúng ta tự tin một cách hợm hĩnh khi ngả lưng trên những chiếc ghế hay những chiếc giường đắt tiền trong một căn phòng máy lạnh và cứ ngỡ rằng không một hạt bụi nào dính vào chúng ta và không một làn khói xe nào lọt vào buồng phổi chúng ta.
Và khi ra đường, chúng ta tự tin đã có những chiếc xe hơi sang trọng và những chiếc khẩu trang tội nghiệp đang bảo vệ chúng ta khỏi những ô nhiễm chết người. Bởi thế chúng ta tùy tiện phá hoại những bức tường xanh bảo vệ sự sống của mình.
Trong chúng ta, hầu hết mọi người đã từng ngồi trong những quán cơm bụi. Chúng ta gọi những món ăn mà chúng ta tin tưởng rằng sẽ tăng cường sức khỏe. Nhưng nếu chúng ta nhìn sang bên cạnh, chúng ta sẽ thấy những rãnh nước đen ngòm đầy “sát khí” chảy sát ngay chân ghế của một quán cơm bụi hay một quán bia hơi.
Nếu chúng ta thử quên đi một giây khắc mùi của chim quay, gà rán chúng ta sẽ thấy mùi của những rác bẩn trong cống rãnh bên đường và mùi của những con chuột chết chúng ta vừa mới vứt ra đường đêm trước một cách tự nhiên. Nếu chúng ta nhìn xuống chân mình, chúng ta sẽ thấy giấy lau miệng đầy mỡ và xương gia súc được nấu chín tràn ngập bên nh
ng đôi giày nhập ngoại.
Nếu chúng ta nhìn thấu qua những bức tường vào tận khu bếp của nhà hàng, chúng ta sẽ nhận ra những túi thực phẩm được tẩm ướp bằng chất hóa học chết người hay những gia súc đã chết hoặc mang bệnh. Chúng ta đang say sưa hưởng lạc những mầm mống của bệnh tật một cách hống hách. Chúng ta đang chết dần chết mòn bởi chính mình mà không hay biết.
Tham lam làm người ta trở nên lú lẫn và độc ác với chính mình
Bạn đã bao giờ nhìn thấy những người già tập dưỡng sinh trên một hè phố còn may mắn đủ rộng và ít hàng quán chưa? Họ tập dưỡng sinh nhưng giống như những chiến binh đang vung gươm ở giữa sa trường. Bởi quanh họ là tiếng xe động cơ gào rú, là mù mịt khói xả từ khí đốt, rồi bụi đường, rồi rác thải. Tôi đã từng dừng lại nhìn những người già tập dưỡng sinh vào một buổi chiều nhưng lại đeo khẩu trang.
Một hình ảnh kỳ dị mà thương cảm. Chúng ta sợ hãi bệnh tật và cái chết. Nhưng chính chúng ta là những kẻ nuôi dưỡng bệnh tật và cái chết đó cho chính bản thân mình. Chúng ta đều biết và hiểu những điều này. Nhưng sự tham lam trước mắt đã làm chúng ta trở lên lú lẫn và ác độc với chính mình. Nếu chúng ta công bằng nhìn lại bản thân mình, chúng ta sẽ thấy chúng ta thảm hại đến nhường nào.
Chúng ta cũng đang đối xử tàn nhẫn với những công trình văn hóa vô giá mà tổ tiên, ông bà chúng ta đã xây dựng lên. Rất nhiều công trình văn hóa và lịch sử ở trong chính thành phố của chúng ta đang ngày càng bị xiết chặt như người ta xiết sợi dây vào cổ một con người. Xung quanh những công trình văn hóa và lịch sử vô giá ấy, chúng ta cho phép xây dựng rất nhiều công trình phi văn hóa và phi kiến trúc.
Lẽ ra, xung quanh những công trình vô giá ấy, chúng ta phải có một không gian thiên nhiên và văn hóa khác phù hợp với những công trình văn hóa và lịch sử kia. Tại sao chúng ta lại không làm được điều đó? Nếu chúng ta không làm được điều đó thì chúng ta đang xây dựng một thành phố như thế nào và vì cái gì?
Chúng ta có luật pháp. Chúng ta phải tuyên truyền và cả bắt buộc mọi người sống và làm việc theo pháp luật để cho lợi ích chung và lâu dài của toàn xã hội. Chúng ta không thể hiểu được vì sao một ngôi nhà không chịu chuyển đi đến nơi định cư mới mà chúng ta phải phải dừng lại toàn bộ công trình lớn của đất nước?
Những ngôi nhà siêu mỏng mà báo chí đã nói đến rất nhiều trở thành những câu chuyện bi hài của xã hội chúng ta. Hay phải chăng chúng ta không có một chiến lược ? hay phải chăng chúng ta đã không công bằng? Hay phải chăng chúng ta vì một người mà quên đi lợi ích của muôn người? hay phải chăng luật pháp chỉ là một cuốn sách in đẹp nhưng không ai đọc?
“Nếu đến đó, bạn sẽ thấy một phần của Thiên đường”
Australia là một trong những đất nước có thiên nhiên và môi trường tốt nhất thế giới. Tôi được biết, chính quyền thành phố Sidney đã từng quyết định bỏ đi nhiều khu nhà cao tầng để làm những công viên. Họ đã cẩu những cây cổ thụ về trồng trong những công viên đó.
Họ có chiến lược làm sạch hóa hay thiên hóa chính những thành phố siêu phát triển của họ. Nếu nghĩ về lợi ích trước mắt và lợi ích của một số cá nhân hay một số tập đoàn thì họ không bao giờ làm được điều đó. Nhưng họ nghĩ đến lợi ích lâu dài cho toàn xã hội mà trong đó có chính bản thân họ và con cháu họ sau này.
Lợi ích của toàn xã hội là mục đích cao nhất mà mọi người phải hành động vì mục đích ấy. Khi người Australia xây dựng thủ đô mới của họ, Canberra, họ dành một diện tích rất lớn để đào một hồ nước. Hồ nước này được mang tên kiến trúc sư người Mỹ, người đã thiết kế thủ đô Canberra.
Và xung quanh hồ nước khổng lồ ấy là một thiên nhiên rộng lớn và kỳ diệu. Nếu bạn đến đó, bạn sẽ thấy nơi đó giống như một phần của Thiên đường. Thiên nhiên của Australia rất rộng lớn và phong phú, nhưng họ vẫn muốn làm cho thiên nhiên quanh họ rộng ra và rộng ra mãi.
Bởi nếu không có thiên nhiên ấy, không có một môi trường trong sạch ấy, bệnh tật sẽ đến với họ. Mà trong đó, có một căn bệnh không chết người nhưng giết chết tinh thần họ. Đó là căn bệnh của sự trầm cảm và vô cảm. Theo các nhà nghiên cứu tâm sinh lý thì những đứa bé được nuôi dạy trong một thiên nhiên trong sạch và hài hòa sẽ phạm tội ít hơn vài chục lần so với những đứa bé sống trong một thế giới mà thiên nhiên bị hủy hoại hay bị tách rời khỏi thiên nhiên. Và nhiều trung tâm y học trên thế giới đã dùng thiên nhiên để chữa bệnh trầm cảm,
tự kỷ, vô cảm… của những đứa trẻ và cả những người lớn.
Tuổi thơ của con cái chúng ta có bao phần hoà vào thiên nhiên?
Nhưng chúng ta đã không nghĩ đến điều đó. Ngay trong chính một mảnh đất chúng ta có thì chúng ta cũng không biết cách làm một khu vườn nhỏ như tạo ra một thiên nhiên cho mình. Chúng ta xây một tòa nhà thô thiển thật to với những căn phòng rộng quá mức và nhét vào đó đủ thứ đồ đạc và tiện nghi của một kẻ trọc phú. Có phải chúng ta không biết những điều tôi vừa nói đến đâu.
Hàng năm, chúng ta có biết bao đoàn đi thăm quan, học tập ở các nước tiên tiến. Nhưng hình như khi trở về, chúng ta lại quên ngay những gì mình đã tận mắt nhìn thấy. Chúng ta đang thu hẹp dần thiên nhiên quanh mình bằng lòng tham đôi khi chỉ là lấn chiếm thêm mấy trăm xăng-ti-mét cho cái móng nhà của chúng ta.
Có biết bao lối ngõ ở thành phố càng ngày càng bị thu hẹp lại và trở thành một cái hang chuột khổng lồ. Và hàng ngày, chúng ta chen lấn trong những lối ngõ ẩm thấp, lầy lội và chật chội như thế để tìm về ngôi nhà của mình mà ít khi có tia nắng hay ngọn gió nào vào được.
Có bao giờ bạn đặt câu hỏi vào ngày nghỉ cuối tuần bạn sẽ đưa những đứa con của mình đi đâu? Câu hỏi giản đơn này nhưng chúng ta thật khó trả lời. Những đứa trẻ sẽ ra sao khi suốt tuổi thơ mình chúng không được hoà vào thiên nhiên trong sạch và đầy hấp dẫn. Chẳng lẽ chúng chỉ đến những nơi với các trò chơi điện tử và ăn gà rán KFC.
Chúng ta không thiếu tiền để xây những công viên nhiệt đới cho những công dân tương lai của mình. Bởi chính chúng ta đã và đang tiêu tiền vào quá nhiều những chuyện chưa cần thiết hoặc chỉ làm cho con người thêm mệt mỏi.
Ngay cả bản thân những người lớn chúng ta cũng không biết đưa gia đình mình đi đâu vào những ngày nghỉ. Chúng ta chỉ còn biết quanh quẩn trong ngôi nhà chật chội của mình giữa bốn bức tường bê tông vô cảm và u uẩn. Bởi đâu đâu trong thành phố cũng chỉ là xe máy, xe hơi và những ngôi nhà bê tông nặng nề với một kiến trúc rối loạn.
Thiên nhiên có sức mạnh tựa như phép thiêng
Viết đến đây, tôi lại nhớ câu chuyện thật về đứa con thiểu năng của nhà văn Nhật Bản, Kenzaburo Oe (giải Nobel văn học ). Ông đã viết câu chuyện này và gửi tới bạn đọc toàn thế giới.
Đứa con trai của ông lên tám tuổi mà không có khả năng nói. Vào một mùa hè, Oe đưa con đến nghỉ ở một vùng rừng. Chiều chiều, ông thường cõng con từ khu nhà nghỉ đi trên một con đường nhỏ men theo cánh rừng. Từ cánh rừng chiều chiều ấy, tiếng chim đỗ quyên vọng ra da diết và quyến rũ.
Bỗng một chiều, đứa con trai ông bỗng kêu lên: “Bố ơi, chim kêu”. Ông sững người lại kinh hoàng. Ông đặt đứa con xuống và quay lại nhìn nó.
Phép thiêng nào đã giúp con trai ông biết nói. Cuối cùng ông đã nhận ra chính thiên nhiên kỳ vỹ với muôn vàn phép lạ mà chúng ta không biết hoặc không tin đã ban phước cho con trai ông. Cái thế giới đô thị nhiều lúc như ngạt thở, như điên loạn cho dù với những phòng thí nghiệm và khám chữa bệnh tối tân cũng không giúp được đứa bé. Nhưng thiên nhiên đã làm được những điều tựa phép thiêng ấy.
Tất cả những gì tôi đã viết ở trên chẳng là những điều gì to tát. Mà đó là những điều hình như ai cũng hiểu. Nhưng chúng ta không sao làm được điều đó. Chúng ta ít nhất một lần đã nổi giận về sự ngột ngạt, về những cuộc tắc nghẽn giao thông trong cái nóng hầm hập, về một ngày nghỉ không biết tìm đâu một nơi yên tĩnh của thiên nhiên, về những ngột ngạt vô cớ trong lòng chúng ta…
Nhưng ngay sau sự nổi giận ấy, chúng lại sẵn sàng lấn chiếm hoặc san lấp những hồ nước, những công viên và những khoảng không gian còn lại ít ỏi trong thành phố của mình. Vì sao chúng ta lại rơi vào bi kịch này? Vì chúng ta không hiểu biết hay vì chúng ta đã trở nên lú lẫn?
Hạnh Nguyên
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Christmas is the time to come together
a time to put all differences aside
and I reach out my hand to the family of man
to share the joy I feel at Christmas time
for the truth that binds us all together
I would like to say a simple prayer
that at this special time you will have true peace of mind
and love to last throughout the coming year
and if you believe in love
that will be more than enough
for peace to last throughout the coming year
and peace on earth will last throughout the year.
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Tôi chọn năm 1954 là điểm xuất phát đường đi của những người nông dân, vì đó là thời điểm miền Bắc giải phóng hoàn toàn khỏi ách cai trị của người Pháp. Suốt chặng đường dài hơn nửa thế kỷ ấy, trên cánh đồng của mình, người nông dân đã đi được đến đâu? Họ có biến được giấc mơ về sự giàu có và văn minh thành hiện thực không?
54 năm qua, những người nông dân không một ngày ngừng cày cuốc, nhưng ngẩng lên nhìn lại, họ kinh hãi nhận ra: họ đã đang đi theo một vòng tròn, đang có nguy cơ trở lại điểm xuất phát.
Nếu có ai phản biện điều tôi vừa nói, xin đừng dùng hình thức bên ngoài trong đời sống của người nông dân để làm bằng chứng cho những phản biện của mình. Đời sống sinh hoạt tuy có thay đổi, nhưng những thay đổi ấy không có ý nghĩa nhiều lắm so với sức lao động và sự hy sinh của họ hơn nửa thế kỷ qua. Nếu chúng ta nhìn gần hơn nữa vào hiện thực trên cánh đồng của họ, nhìn sâu hơn nữa vào ngôi nhà họ, tôi tin, chúng ta không thể cầm lòng.
Trước năm 1954, những người nông dân là những người làm thuê cho các chủ đất mà chúng ta gọi là địa chủ. Sau khi miền Bắc được giải phóng kéo theo cuộc cách mạng ruộng đất lớn, đất đai không còn thuộc về những chủ đất trước đó nữa, nhưng người nông dân vẫn chưa thực sự trở thành người chủ sở hữu đất đai của họ. Hợp tác xã được thành lập. Trước kia, đất đai thuộc sở hữu của một cá nhân, nay thuộc sở hữu của một tập thể những cá nhân. Người nông dân vẫn chỉ là những người làm công ăn điểm. Họ không được quyền quyết định hình thức và nội dung sản xuất. Chỉ đến khi khoán quản ra đời, vai trò tự chủ của người nông dân đối với mảnh đất của họ mới được xác lập một phần. Nhưng, quyền sở hữu đất đai vẫn chưa thuộc về họ.
Lý thuyết về khoán quản là của ông Kim Ngọc, nhưng người thực hiện thành công đầu tiên lại là những người nông dân xã tôi – xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Ngày đó, các ông Phạm Văn Đồng, Tố Hữu và một số vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã về xã tôi để tận mắt nhìn sự thay đổi lạ lùng này. Báo Nhân Dân đã có hẳn một bài báo với dòng tít lớn: Sơn Công, câu trả lời cho vấn đề nông nghiệp Việt Nam. Ông chủ nhiệm Hợp tác xã Sơn Công đã trở thành đại biểu Quốc hội ngay sau đó, dù ông mới chỉ học hết lớp ba.
Nhưng, từ đó đến nay, phương thức sản xuất nông nghiệp của những người nông dân vẫn không thay đổi đáng kể. Đầu những năm 1950 của thế kỷ trước, hệ thống tưới tiêu, hệ thống cơ giới và kỹ thuật nông nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp khá tốt. Ngày đó, người nông dân được tuyên truyền về tương lai của những cánh đồng, về thời đại cơ giới hóa, máy móc và kỹ thuật sẽ trợ giúp việc canh tác của họ. Bản thân những người nông dân cũng tin và mơ ước như thế.
Nhưng cho đến bây giờ, sau mấy chục năm, giấc mơ cơ giới hóa nông nghiệp coi như tan biến. Ngay cả những người tuyên truyền về giấc mơ này cũng “ngủ” thiếp từ lâu.
Thay vào giấc mơ cơ giới hóa là sự trở về của hiện thực con trâu đi trước cái cày theo sau. Hình ảnh này trước kia được dùng để nói về nỗi thống khổ và lạc hậu của người nông dân, giờ lại là hình ảnh quá quen thuộc trên những cánh đồng. Mà ngay đến trâu bò cũng không đủ cho nông dân cày ruộng.
Có một điều kỳ lạ là thi thoảng chúng ta vẫn thấy, trên truyền hình hồ hởi đưa tin những người nông dân sáng chế ra máy gặt lúa, tuốt lúa, máy gieo hạt… như một thành tựu khoa học. Xin hỏi, những nhà sáng chế nhiều bằng cấp trong các viện sáng chế của Nhà nước đang ở đâu và đang làm gì mà để cho mấy người nông dân, có khi chỉ học hết lớp ba trường làng, hì hục tự chế ra những phương tiện để bớt nỗi vất vả của họ?
Từ năm 1954, chúng ta đã bắt đầu đào tạo kỹ sư nông nghiệp một cách có hệ thống. Theo tôi biết, mỗi năm ít nhất có khoảng vài trăm kỹ sư nông nghiệp ra trường. Nhưng suốt một nửa thế kỷ qua, ở rất nhiều vùng quê tôi biết, không hề có lấy một ông (bà) kỹ sư nông nghiệp nào về sống, làm việc cùng nông dân và hướng dẫn họ. Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì người nông dân cả nước vẫn đang sản xuất nông nghiệp theo bản năng và thói quen như tổ tiên họ trước kia.
Những người nông dân khi được hỏi đến đều buồn bã cho rằng không ai quan tâm đến họ. Nhiều người nói: chúng tôi đang được quan tâm vì người ta muốn lấy ruộng để làm dự án! Người nông dân được đền bù một số tiền mà họ chưa bao giờ có. Nhưng, những đồng tiền bù đó là những đồng tiền mua sự thất nghiệp và những thách thức khác mà chính người nông dân không thể biết. Cái chính sách mà họ thực sự cần là chính sách tạo công ăn việc làm cho họ và con cháu họ sau khi không còn đất để cấy trồng nữa, nhưng một chính sách cụ thể như thế, cho đến giờ, không một người nông dân nào nhìn thấy, thậm chí nghe thấy.
Những người nông dân đang đi theo một vòng
tròn. Đó không phải là ý của tôi mà là ý của những người nông dân làng tôi. Họ nói: “Ngày xưa ông bà chúng tôi làm ruộng thế nào bây giờ chúng tôi vẫn làm như thế. Chỉ khác là bây giờ có điện. Nhưng, cứ vào ngày mùa thì điện lại bị cắt”.
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Nhiều lúc, tôi vẫn tự hỏi, những người quản lý nông thôn nói riêng và những người quản lý xã hội nói chung đã bao giờ đặt câu hỏi cho chính trách nhiệm của họ: “Mỗi tháng, tổng thu nhập của một khẩu trong mỗi gia đình nông dân là bao nhiêu? Với thu nhập như vậy, họ sẽ sống thế nào?”.
Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Và dù đã biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả, tôi vẫn kinh ngạc khi được nghe con số cụ thể: “Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000đ”. 40.000đ để chi tiêu tất cả những gì họ cần trong một tháng, trong khi chừng ấy tiền chỉ là giá của hai bát phở, giá của hai lít xăng, giá của hai suất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của ba ly cà phê…
Theo khảo sát tạm thời của tôi, hiện mỗi một khẩu ở nông thôn trung bình có một, hai sào ruộng để canh tác. Mỗi năm họ cấy hai vụ lúa với sản lượng trung bình là hai tạ/một sào. Mỗi tạ thóc có giá 250.000đ, có khi lên đến 300.000đ nhưng giá thóc chỉ cao trong một thời gian không đáng kể. Như vậy, mỗi năm trồng lúa, một khẩu sẽ thu nhập khoảng một triệu đồng. Xen vào hai vụ lúa là một vụ màu (ví dụ là ngô). Sản lượng ngô/một, hai sào lúc này tính ra tiền xấp xỉ lúa. Như vậy, tổng doanh thu của một người nông dân trong một năm từ lúa và hoa màu trên mảnh ruộng của họ là khoảng 1.300.000đ.
Trong khi đó, chi phí cho tất cả các dịch vụ từ cày cấy, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thu hoạch, chế biến… chiếm ít nhất 60% tổng doanh thu. Thực thu còn lại của một người nông dân từ việc canh tác trên mảnh ruộng của họ mỗi năm là khoảng 500.000đ. Nếu chia ra 12 tháng thì mỗi người nông dân chỉ có khoảng 40.000đ cho toàn bộ chi tiêu trong một tháng.
Tất nhiên, ngoài nguồn thu nhập ấy, người nông dân phải tìm những nguồn thu nhập phụ khác như chăn nuôi, làm nghề phụ, làm thuê trong thời gian giáp hạt v.v… Nhưng, những thu nhập phụ này không phải là nguồn thu nhập ổn định và cũng không đáng bao nhiêu. Chăn nuôi cũng chỉ để cải thiện thêm đời sống, nghề phụ thì hầu hết các làng nghề truyền thống đã và đang teo dần lại vì tính hiệu quả quá thấp.
Số ruộng tính trên một đầu người mà tôi đưa ra ở trên là một con số hơi lạc quan. Thực tế, có những gia đình nông dân tính đầu người không quá nửa sào ruộng, có nơi còn ít hơn thế vì tất cả những người sinh sau năm 1993 không còn được chia ruộng nữa. Do vậy, một gia đình có hai vợ chồng trẻ và ba đứa con, tổng cộng năm người, chỉ có 2,5 sào. Số gia đình như vậy ở nông thôn đang càng ngày càng nhiều.
Nhiều người nói, ruộng canh tác của nông dân ngày càng ít đi. Thực tế không hẳn là như thế, mà vì dân số ngày càng tăng nên tất yếu số ruộng tính trên đầu người sẽ ít lại. Các khu công nghiệp, các khu đô thị mới, các khu vui chơi giải trí lại đang ngày càng mở rộng, góp phần nuốt chửng hàng trăm, hàng ngàn và rồi sẽ đến hàng triệu hecta ruộng của những người nông dân.
Với hiện trạng như vậy, người nông dân và con cháu của họ sẽ ra sao? Đất nước đã và đang phát triển. Đó là sự thật không ai có thể phủ nhận. Nhưng, sự phát triển này đang ngày càng mất cân bằng. Nếu chúng ta dựng đồ thị sự phát triển của các đô thị và các vùng nông thôn, sẽ thấy ngay sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị ngày một cao. Khoảng cách giàu nghèo giữa nông dân và thị dân càng ngày càng làm cho những người nông dân thêm tủi nhục và cay đắng. Một thị dân chi tiêu một ngày đã gấp ba, gấp bốn tổng chi phí một tháng của một người nông dân. Đó mới chỉ là sự so sánh giữa một thị dân nghèo với một người nông dân, chứ chưa phải so sánh với một thị dân thu nhập cao.
Cách đây khoảng bảy năm, tôi có làm việc với huyện Mai Châu, Hòa Bình và được biết: số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai vay ngân hàng Nhà nước và đã làm thất thoát bằng tổng thu nhập trong 80 năm của cả huyện. Ngày nay, việc làm thất thoát tài sản của nhân dân còn lớn gấp nhiều lần Nguyễn Văn Mười Hai trước kia. Trong khi đó, thu nhập của người nông dân vẫn chẳng cải thiện được bao nhiêu.
Những cuộc vận động “lá lành đùm lá rách” chỉ là một lối hành xử văn hóa chứ không phải là một chính sách, một chiến lược đối với nông dân. Chính vì với thu nhập “kinh hoàng” như thế mà tương lai của các thế hệ trẻ ở nông thôn Việt Nam là một tương lai bất ổn. Những thiếu nữ từ các vùng nông thôn đi như trẩy hội về thành phố làm những nghề “mập mờ”. Việc liều thân đi làm dâu ở Hàn Quốc, Đài Loan v.v… là một bi kịch. Tất cả cũng chỉ vì họ cố tìm cách thoát ra khỏi cuộc sống quá nghèo đói và không nhìn thấy hy vọng nào ở tương lai của chính họ và gia đình.
Họ cũng không làm thế nào để cải thiện được cuộc sống hiện tại. Họ chỉ có từng ấy đất đai, từng ấy mùa vụ, từng ấy sản lượng, chỉ có bấy nhiêu phương tiện lao động và cả từng ấy tư duy canh tác… Cho nên, kết quả đương nhiên là chỉ
có từng ấy thu nhập.
Phải thừa nhận là chúng ta không quan tâm đến họ một cách thiết thực, mà nói thẳng ra là chúng ta đã từng bỏ rơi họ. Mấy gói mì tôm, mớ quần áo cũ ném xuống làng họ khi bị bão lũ đâu phải là một chính sách hay là một chiến lược. Có thể có một doanh nhân nào đó sẽ khó chịu, nói: “Nông dân hãy làm đi, đừng kêu than!”. Tôi xin hỏi: “Giữa một doanh nhân được mua hàng trăm, hàng ngàn hecta đất ruộng của những người nông dân với giá vài trăm ngàn đồng/mét vuông để ngay sau đó bán lại một mét vuông đất đó trên sơ đồ quy hoạch với giá hàng chục triệu đồng, thậm chí hơn thế thì ai là người được “quan tâm” và ai là kẻ bị bỏ rơi?”.
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” của tôi (giải thưởng Hội Nhà văn năm 1993), có bài thơ “Trên đại lộ” viết về những người đàn bà thôn quê, đoạn mở đầu là:
Tôi đã viết bài thơ này 17 năm trước. Nhưng đến bây giờ, hình ảnh trong bài thơ về những người đàn bà thôn quê lam lũ và u buồn hình như chẳng thay đổi bao nhiêu. Trên những con đường và trên những cánh đồng thôn quê, chúng ta vẫn nhìn thấy hiện thực ấy. Cả trong những đô thị, thi thoảng chúng ta lại nhìn thấy họ đi qua những tiệm cà phê, quán ăn…
Đại lộ trong bài thơ là hình ảnh của đô thị hóa. Đô thị hóa làm ai đó thay đổi đời sống của mình, nhưng những người đàn bà thôn quê vẫn đang đi bên lề của sự đổi thay ấy. Họ đi như một sự cam chịu. Họ đi và không hề than thở. Họ thực sự là một đội quân thất trận trên cánh đồng của mình.
Không ít người đàn bà thôn quê và con cháu họ đã phải rời bỏ cánh đồng và quê hương mình để ra thành phố, làm tất cả những gì có thể để mưu sinh. Họ làm Ôsin, bồi bàn, họ bán hàng rong và có khi bán cả thân xác lẫn tâm hồn… Nhìn vào mâm cơm của họ, nhìn vào giường ngủ của họ, nhìn vào gương mặt của họ… tôi luôn có cảm giác rằng họ không bao giờ có được một giấc mơ đẹp.
Hàng tuần, trở về làng mình, lúc nào tôi cũng bàng hoàng bởi sự đổi thay nhan sắc của những thiếu nữ thôn quê. Tóc họ vừa mới dài đấy, má họ vừa mới hồng đấy, mắt họ vừa mới lấp lánh đấy, lưng họ vừa mới thon thả đấy… nhưng, chỉ trong chớp mắt, đã không còn nhận ra họ nữa. Họ nhanh chóng trở nên già nua và xấu xí như bị một mụ phù thủy hóa phép. Khi tôi cất tiếng chào họ trên đường làng, không ít người cúi mặt đáp lại lí nhí và vội vã bước đi.
Những người đàn ông quá mệt mỏi vì phải cố gắng đổi thay đời sống ngay trên mảnh ruộng của gia đình. Họ lao vào rượu chè. Thế là bạo lực gia đình ngày một tăng lên. Tất cả sự thất vọng và cực nhọc, họ trút xuống những người đàn bà của mình. Có đến 99% những người đàn bà thôn quê bị bạo hành đã cam chịu, không bao giờ lên tiếng. Bởi họ biết, điều đó chỉ làm những cơn phẫn nộ gia tăng.
Chúng ta từng đọc trên báo chí tâm sự của những thôn nữ bán mình. Họ bán mình một hai năm để có chút vốn, về quê lấy chồng và lập nghiệp. Những chuyện như thế trước kia cũng có, nhưng không phổ biến và không được coi là “chuyện thường tình” như bây giờ. Trước kia, cả xã hội cùng nghèo. Bây giờ, giữa người giàu và người nghèo là một vực sâu. Những người đứng phía bờ của đói nghèo không bao giờ dám tin có ngày họ sẽ vượt qua. Tổ tiên họ trồng lúa, ông bà họ trồng lúa, rồi cha mẹ họ và đến họ cũng vẫn trồng lúa. Trồng lúa chỉ duy nhất giúp họ không chết đói, chứ không bao giờ giàu lên được.
Những người đàn bà thôn quê đời này nối đời kia trồng cấy không ngơi nghỉ. Nhưng tôi cam đoan, hầu hết gia đình họ không có nổi vài triệu tiền mặt trong nhà. Thế nhưng, có những người gọi là doanh nhân đến mua hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn hecta đất cấy trồng của họ để lập dự án xây chung cư, bán lại kiếm hàng trăm, hàng ngàn tỷ. Đó là sự thật đang diễn ra hàng ngày mà chúng ta ai cũng biết.
Như hình ảnh trong bài thơ của tôi, người đàn bà nông thôn vẫn đi sát mép đại lộ như một sự cam chịu tội nghiệp và không than thở. Những người đàn bà ở rất nhiều vùng thôn quê sống như một tù nhân trong chính ngôi nhà của họ. Họ bị bắt sinh hết đứa con này đến đứa con khác. Có những người khiến tôi nghĩ, lúc nào họ cũng có thai. H
phải lao động nhiều hơn những người đàn ông. Họ không biết đến điều gì thuộc về đời sống tinh thần. Họ không có báo, có sách để đọc, họ không biết đến mỹ phẩm, không biết đến cả một bát phở tồi bán ở thị trấn, càng không biết đến nhà hàng hay tiệm làm tóc… Họ sống như ở một thế giới khác và một thời khác thời chúng ta đang sống. Họ chỉ biết đến trâu bò, lợn gà, phân tro, bùn đất, cấy hái, con cái và muôn vàn nỗi lo khác.
Và, điều đau lòng mà tôi biết là họ không mấy khi có được một giấc mơ đẹp. Hình như họ chẳng có một ngày thanh thản để một giấc mơ đẹp có thể bay về trú ngụ trong tâm hồn họ. Trong suốt những năm chiến tranh, họ sống âm thầm với bao giáo lý về đức hạnh để chờ chồng. Ngay cả khi người chồng đã hy sinh, họ cũng không dám đi bước nữa bởi những ràng buộc và thói thị phi.
Nhiều năm qua, tôi đã cố gắng làm những gì có thể cho đời sống văn hóa của làng tôi. Tôi chỉ mong muốn tôi và bạn bè mình có thể mang đến cho họ một khoảnh khắc hạnh phúc, để tạm quên đi những cực nhọc và u buồn đằng đẵng bám theo cả đời họ. Hai câu thơ cuối bài thơ tôi viết: Họ đến từ đâu và sẽ đi đâu? Với mùi tanh cua ốc tỏa quanh người. Tôi đang nói về họ chứ không phải nói về những câu thơ của mình.
Cũng 17 năm về trước, tôi đã gặp những người đàn bà thôn quê đi buôn cá khô, nước mắm, cua ốc trên những chuyến xe khách. Áo quần, tóc tai họ tỏa ra mùi cá khô và mùi gà vịt. Họ ngoẹo đầu ngủ trên xe, có người miệng chảy dãi. Và, tôi viết Giấc mơ như thế nào trong giấc ngủ thế kia? Đó không phải là thơ. Đó là một câu hỏi như tiếng nấc.
Cuộc sống của con người đâu chỉ để kiếm từng miếng ăn nhét đầy dạ dày, mà phải được khai mở tâm hồn và trí tuệ. Nhưng, những người nông dân nói chung và những người đàn bà thôn quê nói riêng đã sống một cuộc sống hầu như không có sự khai mở ấy. Hãy đến và sống với họ, chúng ta sẽ phải kinh ngạc kêu lên: Chẳng lẽ con người sinh ra để sống như thế ư?
Posted in Uncategorized | Leave a Comment »